Báo cáo Biện pháp Sử dụng phương pháp kể chuyện lịch sử kết hợp sử dụng đồ dùng trực quan nhằm nâng cao hứng thú học tập của học sinh trong chương trình Lịch sử Việt Nam Lớp 11

docx 11 trang Chăm Nguyễn 01/07/2025 580
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Biện pháp Sử dụng phương pháp kể chuyện lịch sử kết hợp sử dụng đồ dùng trực quan nhằm nâng cao hứng thú học tập của học sinh trong chương trình Lịch sử Việt Nam Lớp 11", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_bien_phap_su_dung_phuong_phap_ke_chuyen_lich_su_ket.docx

Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Sử dụng phương pháp kể chuyện lịch sử kết hợp sử dụng đồ dùng trực quan nhằm nâng cao hứng thú học tập của học sinh trong chương trình Lịch sử Việt Nam Lớp 11

  1. 2. Nội dung biện pháp: 2.1. Sử dụng các câu chuyện lịch sử kết hợp đồ dùng trực quan để trình bày diễn biến một cuộc chiến tranh, một cuộc khởi nghĩa, một chiến dịch, từ đó rút ra bài học lịch sử. Khi các bài học có nội dung liên quan đến diễn biến của một cuộc khởi nghĩa, cuộc kháng chiến, một chiến dịch giáo viên sử dụng bản đồ, lược đồ hay sa bàn trong quá trình tường thuật sự kiện, có thể cho học sinh xem một đoạn phim tư liệu lịch sử, giáo viên kết hợp kể những câu chuyện có liên quan đến sự kiện đang trình bày, cho học sinh quan sát tranh ảnh. Điều này có tác dụng giúp học sinh nhớ tốt hơn diễn biến, sau đó giáo viên có thể đặt một vài câu hỏi để các nêu lên những suy nghĩ của bản thân và rút ra được nội dung bài học hoặc cho học sinh kể trên cơ sở đã chuẩn bị câu chuyện. Ví dụ 1: Khi dạy bài 20: “Chiến sự lan rộng ra cả nước. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta từ năm 1973 đến năm 1984”. Có rất nhiều sự kiện nhưng giáo viên chọn sự kiện tiêu biểu nhất đó là chiến thắng Cầu Giấy lần 1 năm 1873 . Giáo viên sử dụng lược đồ trận Cầu Giấy kết hợp hình ảnh để tường thuật trận phục kích làm nên chiến thắng Cầu Giấy vang dội của nhân dân ta (21/12/1873). Trận Cầu Giấy diễn ra vào ngày 21/12/1873 khi Gác-ni-ê đang bàn luận với các sứ bộ An Nam thì viên thông dịch vào báo rằng quân Cờ Đen (tức quân Lưu Vĩnh Phúc) đang đánh thành ở cửa Tây, lính Pháp nã súng ra, buộc quân Cờ Đen phải rút lui sau lùm tre. Gác-ni-ê liền gọi một toán lính hơn một chục người rồi giao cho ba người kéo một cỗ súng đại bác ra ngoài cổng thành đuổi theo quân địch. Vì súng thì nặng nên không đi nhanh được, Gác-ni-ê ra lệnh bỏ lại với vài tên lính. Chín tên lính còn lại thì Gác-ni-ê chia thành ba nhóm. Hai nhóm truy kích vòng ra hai phía tả hữu còn Gác-ni-ê thì dẫn nhóm trực chỉ lối giữa. Đuổi khoảng 1 km rưỡi thì Gác-ni-ê trượt chân ngã xuống ở chân dốc đê. Một toán quân Cờ Đen ẩn đằng sau đê ùa ra, súng bắn tràn. Lúc đó Gác-ni-ê đã bỏ xa hai người lính hộ vệ 100 mét. Một người trúng đạn chết; người kia cũng bị thương. Gác-ni-ê gào to: "Hỡi những binh sĩ dũng cảm, hãy lại đây với tôi, tôi sẽ đánh cho chúng một trận chí tử!". Sau đó Gác-ni-ê cố tự vệ dùng súng côn bắn sáu phát. Quân Cờ Đen xông ra bao vây giết chết Gác- ni-ê và một binh sĩ khác Bốn người đồng đội khác của Gác-ni-ê cũng bị giết trong cuộc truy kích này. 3
  2. Qua đó học sinh nắm được chiến thắng Cầu Giấy có ý nghĩa lớn khiến cho nhân dân ta vô cùng phấn khích, ngược lại làm cho thực dân Pháp vô cùng hoang mang lo sợ. Tình hình đó mở ra một cơ hội để quân ta tấn công Pháp buộc chúng rút khỏi bắc Kì. Song triều đình một lần nữa lại kí với Pháp Hiệp ước Giáp Tuất năm 1874 chịu nhiều thiệt thòi . Từ đây, phong trào kháng chiến của nhân dân vừa chống thực dân Pháp vừa chống phong kiến đầu hàng. Ví dụ 2 Khi dạy bài 21: “Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm cuối thế kỉ XIX”, phần II mục 4: “ Khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913)” giáo viên kết hợp cho học sinh quan sát tranh ảnh và kể : Từ năm 1884 đến năm 1892. Tại vùng Yên Thế có hàng chục toán quân chống Pháp hoạt động riêng lẻ, đặt dưới sự chỉ huy của các thủ lĩnh khác nhau. Thủ lĩnh có uy tín nhất lúc đó là Đề Nắm đã lãnh đạo nghĩa quân đẩy lùi nhiều trận càn quét của quân Pháp vào khu vực Cao Thượng, Hố Chuối. Đến năm 1891, nghĩa quân làm chủ một vùng rộng lớn và mở rộng hoạt động sang Phủ Lạng Thương (vùng thành phố Bắc Giang ngày nay). Trước những đợt tấn công, càn quét mới của giặc, nghĩa quân phải rút dần lên vùng Bắc Yên Thế xây dựng, củng cố hệ thống công sự phòng thủ. Tháng 3-1892, Pháp huy động khoảng 2 200 quân, gồm nhiều binh chủng ồ ạt tấn công vào căn cú của nghĩa quân. Lực lượng nghĩa quân bị tổn thất nặng, nhiều người bị địch bắt và giết hại, một số phải ra hàng. Đề Nắm bị sát hại vào tháng 4-1892. Pháp đem quân đánh mãi mà không được nên năm 1894, Pháp phải xử hoà với ông, cho ông cai quản 22 xã trong vùng YênThế, Ðề Thám lập căn cứ ở Chợ Gò. Dân chúng gọi ông là “Hùm thiêng Yên Thế”. Nhưng hai năm sau thì Ðề Thám lại nổi lên đánh Pháp, tới năm 1898 thì Pháp lại xin ký hoà ước nhường cho ông thêm nhiều quyền lợi nữa. Ðề Thám sống yên cho tới năm 1905 thì lại nổi dậy đánh Pháp một lần nữa. Năm 1908, Ðề Thám quyết định đánh một cú lớn để chiếm thành Hà Nội nên đã âm mưu với nhiều người đầu bếp để bỏ thuốc độc (bột datura) cho 200 lính Pháp giữ thành ăn, nhưng vì liều thuốc hơi yếu nên lính Pháp chỉ bị lảo đảo chứ không chết, cuộc âm mưu bất thành. Ðầu năm 1909, quân đội Pháp quyết định mở chiến dịch lớn để tấn công Ðề Thám trong tận sào huyệt, Ðề Thám thua nên bỏ trốn vào rừng. Pháp ra giải thưởng 25.000 đồng cho ai bắt hay giết được Ðề Thám. Có ba tay lãng tử người Tàu vì ham tiền nên tìm đến Ðề Thám để xin gia nhập rồi thừa lúc ban đêm ông ngủ mà xúm đến chặt đầu ông đem về lãnh thưởng ngày 10 tháng 2 năm quý- 4
  3. sửu (18-3-1913), chấm dứt một cuộc kháng chiến trường kỳ trên một phần tư thế kỷ. Qua đó cho học sinh thấy đây là phong trào đấu tranh lớn nhất của nông dân trong những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Nói lên ý chí, sức mạnh bền bỉ, dẻo dai của nông dân. 2.2. Sử dụng câu chuyện lịch sử để giải thích tên gọi một địa danh, một vùng đất, bản chất của sự kiện lịch sử Phần lịch sử Việt Nam lớp 11 có rất nhiều sự kiện, địa danh thường rất khô khan và khó nhớ. Để học sinh dễ nhớ và hứng thú hơn trong giờ học, giáo viên cần có những mẫu chuyện sinh động, kết hợp xem tranh ảnh để tạo nên sự hấp dẫn cho bài học hoặc qua phần học sinh tìm hiểu các em tự kể, sau đó giáo viên đặt câu hỏi để các em nhận xét. Còn để cho học sinh nắm được bản chất của sự kiện, tức là trả lời được câu hỏi vì sao thì giáo viên sử dụng các mẩu chuyện lịch sử rồi từ đó nêu tình huống có vấn đề. Ví dụ 1: Khi dạy bài 20, lịch sử Việt Nam lớp 11 phần I mục 3: “Phong trào kháng chiến ở Bắc Kì trong những năm 1973-1974”. Để học sinh hiểu được tinh thần chiến đấu của quân dân Hà Nội khi thực dân Pháp đánh Bắc Kì lần thứ nhất qua việc giải thích vì sao cửa Ô Thanh Hà lại được đổi thành Ô Quan Chưởng, giáo viên kể kết hợp cho học sinh quan sát tranh ảnh. Ô Quan Chưởng là một trong những cửa Ô còn sót lại của toà thành Thăng Long cũ, được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749), đến năm Gia Long thứ 3 được xây dựng lại và giữ nguyên kiểu cách đến ngày nay (cho HS xem ảnh của Ô Quan Chưởng hoặc trình chiếu Powerpoint). Hiện ở cửa ô còn nguyên cửa chính và hai cửa phụ hai bên. Bên trên cửa lớn có ghi ba chữ Hán “Thanh Hà Môn” tức là cửa ô Thanh Hà. Sở dĩ cửa ô còn có tên gọi là Ô Quan Chưởng vì ngày 20.11.1873 Pháp đánh thành Hà Nội, khi đến cửa ô Thanh Hà chúng đã vấp phải sức kháng cự quyết liệt của 100 binh sĩ triều đình do một viên quan Chưởng cơ chỉ huy anh dũng chặn giặc, kết cục viên Chưởng cơ cùng toàn thể 100 binh sĩ đều anh dũng hy sinh. Để tỏ lòng ngưỡng mộ người chưởng cơ anh dũng, nhân dân đổi tên cửa ô là Ô Quan Chưởng. Từ bấy đến nay người ta vẫn chưa xác minh được tên gọi của vị chưởng cơ anh hùng. Vì vậy tên Ô Quan Chưởng vẫn còn đó như một tồn nghi của lịch sử. Qua đó học sinh hiểu được sự ác liệt của chiến trường Hà Nội và việc đổi tên cửa ô thành Ô Quan Chưởng là do nhân dân đổi để tỏ lòng ngưỡng mộ người chưởng cơ anh dũng khi quân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất. 5
  4. Ví dụ 2: Khi dạy bài 22: “Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác lần thứ nhất của thực dân Pháp”. Để giải thích cho sự bần cùng hoá của giai cấp nông dân và nguồn gốc của giai cấp công nhân Việt Nam khác so với giai cấp công nhân quốc tế, giáo viên sử dụng hình ảnh giai cấp nông dân, công nhân Việt Nam thời Pháp thuộc và kể: Để thu những món lãi khổng lồ từ việc kinh doanh cao su, tư bản Pháp đã tìm mọi cách chiếm đoạt những vùng đất đai tốt nhất. Sau khi thâm nhập sâu vào vùng đất mới, vùng đồng bào dân tộc, thực dân Pháp tiếp tục lập thêm các đồn binh và tiến hành đàn áp, bắt dân về làm lao dịch, dùng mọi thủ đoạn từ lừa bịp đến dùng biện pháp vũ lực cướp đoạt trắng trợn đất đai, nương rẫy, và núi rừng, những vùng cư trú của đồng bào dân tộc để làm đồn điền hoặc lập ra các trại cu ly cho các đồn điền. Thời gian đầu, các công ty cao su chủ yếu sử dụng lao động nhàn rỗi trong nông dân, những người “bán công, bán nông”. Lực lượng này tuy đông nhưng thái độ và thời gian làm việc không ổn định. Vì họ là nông dân tại chỗ, những ngày giáp hạt, thiếu ăn họ vào đồn điền làm công, đến mùa vụ họ trở về với mảnh đất khu vườn của gia đình để sinh nhai. Đồn điền cao su càng phát triển, nhu cầu về lao động càng trở nên cấp thiết. Để có nhiều nhân công, thực dân pháp không bỏ qua một thủ đoạn man rợ nào. Desrousseaux trong một báo cáo mật gởi Toàn quyền Đông Dương đã viết: “Người nông dân chỉ bằng lòng rời khỏi làng, làm việc khi nào họ bị đói. Do đó, phải đi đến kết luận lạ lùng là phương thuốc chữa cái khuẩn bách hiện tại (thiếu nhân công) là phải bần cùng hóa nông thôn, rút bỏ những khoản 6
  5. cấp phát, hạ giá nông sản ”. Nhưng tước đoạt ruộng đất và chính sách thuế khóa nặng đối với nông dân Bắc Kỳ chưa tàn bạo bằng việc phá đê nhằm dồn dân vào chỗ không còn kế sinh nhai. Qua câu chuyện trên học sinh hiểu được chính sách cai trị tàn bạo của thực dân pháp, để giải quyết việc thiếu nhân công chúng đã từng bước bần cùng hoá người nông dân không từ thủ đoạn nào và từ sự bần cùng đó người nông dân đã dần trở thành giai cấp công nhân; sau này, giai cấp công nông sẽ là lực lượng cách mạng to lớn của dân tộc. 2.3. Sử dụng các câu chuyện lịch sử kết hợp ảnh chân dung để tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử. Xuyên suốt trong chương trình lịch sử Việt Nam lớp 11 là quá trình kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược. Ở đó đã xuất hiện không ít những anh hùng dân tộc như: Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám... và đặc biệt là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Những nhân vật này có vai trò rất lớn với lịch sử dân tộc do vậy trong dạy học giáo viên không thể lướt qua, bỏ qua mà phải khắc hoạ, tạo biểu tượng về các nhân vật đó, sử dụng phương pháp kể chuyện có tác dụng tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử một cách sinh động, đậm nét từ đó giáo dục học sinh kính trọng, noi gương các anh hùng dân tộc. Giáo viên có thể kể chuyện kết hợp với tranh ảnh để tạo biểu tượng. Ví dụ 1: Bài 20 “Chiến sự lan rộng ra cả nước. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta từ năm 1973 đến năm 1884. Nhà nguyễn đầu hàng”. Để học sinh hiểu về Hoàng Diệu - một người trung quân ái quốc, có chính khí cao, sống mãi cùng đất nước. Giáo viên kể: Tổng đốc Hoàng Diệu 7
  6. Tổng đốc Hoàng Diệu tên thật là Hoàng Kim Tích, tự Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai. Ông sinh ngày 10 tháng 2 năm Mậu Tý (1829) trong một gia đình có truyền thống Nho giáo tại làng Xuân Đài (Diên Phước, Quảng Nam). Từ năm 1879 đến 1882, Hoàng Diệu làm Tổng đốc Hà Ninh, quản lý vùng trọng yếu nhất của Bắc Bộ là Hà Nội và vùng phụ cận. Ông đã lãnh đạo quân dân Hà Nội tử thủ chống lại quân đội Pháp, bất chấp triều đình Huế đã chấp nhận đầu hàng. Ngày 25/4 năm ấy (1882), thực dân Pháp cho quân tấn công thành Hà Nội lần thứ hai. Trước sự uy hiếp bằng tàu to súng lớn của quân Pháp, Tổng đốc Hoàng Diệu không hề nao núng, vẫn quyết tâm giữ thành Hà Nội. Sự kháng cự quyết liệt của quân dân thành Hà Nội khiến giặc thiệt hại nặng nề. Chúng phải lui binh ra ngoài tầm bắn của quân ta để bảo toàn lực lượng. Lúc này kho thuốc súng trong thành bất ngờ nổ sung do nội gián đốt phá, khiến khói bụi mịt mù bao phủ khắp thành. Quân Pháp thừa cơ tấn công mạnh mẽ. Chỉ trong chốc lát, cổng Tây thành Hà Nội bị phá tan tành. Biết không thể chống cự, tổng đốc Hoàng Diệu một mình quay về Hành cung soạn di biểu tạ tội với triều đình, rồi ra Võ Miếu dùng dây quấn đầu tuẫn tiết, hy sinh theo thành. Ví dụ 2: Bài 21: “Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIX”, mục II “Các giai đoạn phát triển của phong trào Cần Vương”. Ví dụ giáo viên tạo biểu tượng về Tôn Thất Thuyết và vua Hàm Nghi. “Tôn Thất Thuyết sinh ngày 29/3/1839 tại thôn Phú Mộng xã Luân Long nay thuộc thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông chủ trương loại bỏ tất cả những ông vua và bọn quan lại có tư tưởng thân Pháp, đồng thời chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho cuộc kháng chiến trong triều đình mà ông dự đoán sẽ bùng nổ. Triều thần, người nào chủ hoà đều bị coi là kẻ thù chung của nước Nam và thù riêng của Tôn Thất Thuyết. Tôn Thất Thuyết là 1 tử tù của nước Pháp. Nhưng đối với người Pháp chỉ có oán với trọng mà không có khinh”. Để giúp học sinh hiểu về vua Hàm Nghi - Một vị vua yêu nước đã ban chiếu Cần Vương. Giáo viên kể đoạn: “Vua Hàm Nghi tên thậy là Ưng Lịch lên ngôi 13 tuổi. Khi cuộc tấn công quân Pháp của Tôn Thất Thuyết bị thất bại, ông cùng Tôn Thất Thuyết chạy lên Sơn Phòng – Tân Sở (Quảng Trị) thảo chiếu Cần Vương kêu gọi nhân dân Phò Vua cứu nước. Thực dân Pháp vô 8
  7. cùng lúng túng trước phong trào Cần Vương, đãm tìm cách bắt cho được Vua Hàm Nghi để dẹp phong trào từ đầu não. Pháp đã mua chuộc tên hầu cận vua là Trương Quang Ngọc bắt vua Hàm Nghi đưa xuống thuyền về Huế. Ngày 14/11/1888, lúc đó vua Hàm Nghi mới 17 tuổi. Pháp tìm mọi cách thuyết phục Hàm Nghi công tác, làm bù nhìn song đều bị nhà vua thẳng thắn khước từ. Ông nói “Tôi thân đã tù, nước đã mất, còn giám nghĩ đến cha mẹ, anh chị em ruột”. Không mua chuộc nổi, thực dân Pháp đẩy nhà vua đi an trí tại Angieri (Thuộc đia của Pháp). Về sau người mới học và làm chủ được ngôn ngữ Pháp, trở thành một hoạ sĩ có tài. Dù vậy Vua vẫn giữ nguyên tập tục dân tộc: Đầu búi bó, quần the áo dài Việt Nam. ông sống ở Angiêri 47 năm. Ví dụ 3: Bài 24 Lịch sử 11: “Việt Nam trong những năm chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918)” Mục 2: “Buổi đầu hoạt động cứu nước của Nguyễn Tất Thành (1911- 1918)”. Cho học sinh thấy được quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc, giáo viên kết hợp cho học sinh quan sát tranh ảnh và kể đoạn chuyện sau: “..... Một hôm tôi mời anh ăn kem. Anh rất lạ. Lần đầu tiên anh mới nếm mùi kem. Sau ít hôm anh đột nhiêu hỏi: “Anh Lê, anh có yêu nước không? Tôi ngạc nhiên và đáp “Tất nhiên là có chứ”. - Anh có thể giữ bí mật không? - Có. - Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví khi đau ốm... Anh muốn đi với tôi không? - Nhưng bạn ơi, chúng ta lấy đâu ra tiền mà đi? - Đây, tiền đây - Anh bạn của tôi vừa nói vừa giơ hai bàn tay. - Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi. - Ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành xuống tàu buôn Pháp mang tên La-tu-sơ-tơ-rê-vin. Giáo viên lại tường thuật về ngày lao động trên tàu của Người để thấy một phần gian khổ trong quá trình đi tìm đường cứu nước. “Hằng ngày, Nguyễn Tất Thành phải cọ rửa gian bếp lớn trên tàu, sau đó nhóm lò, rồi khuôn than, kéo những sọt rau quả, thịt cá, nước đá... từ dưới hầm lên. Có lần trong lúc 9
  8. giông bão, anh đang kéo một sọt nặng trên boong thì 1 đợt sóng lớn chồm tới, cuốn lấy thân thể mảnh dẻ của anh, và xuýt lôi anh xuống biển. Thật may mắn vào khoẳnh khắc cuối cùng thi anh bám được vào dây cáp và nhờ đó thoát chết”. Tóm lại, trên đây là một số phương pháp kể chuyện lịch sử trong dạy học lịch sử tôi đưa ra nhằm tạo hứng thú cho học sinh, nâng cao hiệu quả bài học, truyền đạt kiến thức mới. Trong quá trình vận dụng đòi hỏi giáo viên phải có sự sáng tạo, linh hoạt trên cơ sở khoa học và điều kiện cụ thể của từng lớp học, tiết học.... 3. Hiệu quả của biện pháp đối với hoạt động giáo dục: - Học sinh hứng thú hơn trong mỗi giờ học lịch sử, không khí của lớp học sôi nổi, thoải mái. -Học sinh chủ động, tích cực, tự giác trong quá trình lĩnh hội kiến thức, các em đã biết chủ động khai thác kiến thức trong SGK, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế để giải quyết những câu hỏi, bài tập mà giáo viên đưa ra. - Làm thay đổi cơ bản quan niệm và cách học bộ môn lịch sử của học sinh trước đây là lệ thuộc vào sự truyền giảng kiến thức của giáo viên sang phương pháp học mới lấy người học làm trung tâm. Qua đó, phát huy được tư duy độc lập, khả năng quan sát, óc sáng tạo cũng như hình thành cho học sinh những kĩ năng, kĩ xảo đặc thù cần thiết khi học bộ môn. Đồng thời tôi cũng rút ra một số kinh nghiệm để góp phần sử dụng phương pháp kể chuyện lịch sử vào dạy học lịch sử có hiệu quả hơn: - Để phát huy tác dụng của hình thức kể chuyện trong các giờ học Lịch sử, đòi hỏi người giáo viên phải tìm tòi, tích lũy tư liệu lịch sử - Những câu chuyện được kể cần có sự lựa chọn kĩ lưỡng, phục vụ yêu cầu của bài học, có thể lựa chọn các tình tiết cho phù hợp, lược bớt những chi tiết không cần thiết. Những câu chuyện đó phải phản ánh nội dung lịch sử có liên quan đến bài học, tránh lạm dụng và phải phù hợp với quĩ thời gian trên lớp. - Người giáo viên phải rèn luyện cho mình một ngôn ngữ kể chuyện sao cho sinh động, hấp dẫn, có tác dụng lôi cuốn học sinh. - Trong bài giảng, phương pháp kể chuyện phải sử dụng kết hợp với các phương pháp dạy 10
  9. học lịch sử khác một cách đồng bộ và nhuần nhuyễn như phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan... để nâng cao tính tích cực của học sinh, làm bài giảng sinh động có hiệu quả. Trên đây là một số giải pháp chủ quan của cá nhân tôi được đúc rút trong quá trình dạy học lịch sử, tuy nhiên trong quá trình công tác, do hiểu biết của bản thân còn hạn chế, vẫn còn nhiều thiếu sót trong việc áp dụng và thực hiện giải pháp này, rất mong sự đóng góp, bổ sung của các đồng nghiệp để giải pháp của bản thân được hoàn thiện hơn, áp dụng trong các tiết dạy ngày càng có hiệu quả hơn. 4. Kết luận: “ Sử dụng phương pháp kể chuyện lịch sử kết hợp sử dụng đồ dùng trực quan nhằm nâng cao hứng thú học tập của học sinh trong chương trình lịch sử Việt Nam lớp 11” học sinh đã hứng thú hơn, say mê hơn trong giờ học, phát huy được tính tích cực, chủ động trong quá trình học tập. Qua đó, giúp các em nhận thức sâu sắc hơn về vị trí và tầm quan trọng của bộ môn lịch sử trong trường THPT mà lâu nay các em chưa thực sự quan tâm. Có thể nói, đây là giải pháp không mới, không đặc biệt nhưng đôi khi chúng ta có thể không để ý và không thấy hết tác dụng của nó khi áp dụng vào bài dạy. Tôi hy vọng biện pháp này sẽ góp phần tích cực hơn nữa trong việc đổi mới phương pháp dạy - học bộ môn lịch sử hiện nay ở trường THPT. 11