Báo cáo Biện pháp Phát triển năng lực tự học và giải quyết vấn đề trong dạy học số thập phân cho học sinh Lớp 5
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Biện pháp Phát triển năng lực tự học và giải quyết vấn đề trong dạy học số thập phân cho học sinh Lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_bien_phap_phat_trien_nang_luc_tu_hoc_va_giai_quyet_v.docx
Báo cáo Biện pháp Phát triển năng lực tự học và giải quyết vấn đề trong dạy học số thập phân cho học.pdf
Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Phát triển năng lực tự học và giải quyết vấn đề trong dạy học số thập phân cho học sinh Lớp 5
- 3 pháp "Phát triển năng lực tự học và giải quyết vấn đề trong dạy học số thập phân cho học sinh lớp 5”. 2. Mục đích nghiên cứu - Tìm hiểu và đánh giá thực trạng về việc dạy, học môn Toán lớp 5 nhằm đề xuất ý kiến góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy Toán ở lớp 5. - Đưa ra một số biện pháp phát triển năng lực tự học và giải quyết vấn đề trong dạy học số thập phân cho học sinh lớp 5. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu thực trạng dạy học Số thập phân ở lớp 5. - Đề xuất một số biện pháp phát triển năng lực tự học và giải quyết vấn đề trong dạy học Số thập phân. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Học sinh lớp 5B, năm học 2021-2022 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp phân tích-tổng hợp - Phương pháp quan sát - Phương pháp thống kê II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1.Cở sở lí luận Như chúng ta đã biết môn Toán có một vị trí đặc biệt quan trọng. Đó là môn khoa học nghiên cứu một số mặt của thế giới thực, có một hệ thống kiến thức cơ bản và phương pháp nhận thức rất cần thiết cho đời sống, sinh hoạt lao động. Đó cũng là công cụ rất cần thiết để học các môn học khác, ngoài ra toán học nó còn giúp phát triển tư duy cho học sinh. Đặc biệt năng lực tự học, giải quyết vấn đề, khả năng tư duy và hợp lý và diễn đạt đúng. Các suy luận đơn giản kích thích trí tưởng tượng Đó cũng chính là một phần quan trọng trong mục tiêu của môn Toán ở Tiểu học. Để đáp ứng được mục tiêu trên, người giáo viên phải nắm vững nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy nhất là trong giai đoạn hiện nay. Dạy học môn Toán phải thực hiện được
- 4 mục tiêu mới và quan trọng đó là: Giúp học sinh tự học, tích cực ứng dụng các kiến thức và kỹ năng về môn Toán để giải quyết những tình huống thường gặp trong đời sống hàng ngày. Nhiều giải pháp đã và đang được nghiên cứu và áp dụng để góp phần thực hiện mục tiêu nói trên. Chính vì vậy đòi hỏi người giáo viên không chỉ nắm vững nội dung, mục tiêu bài học mà phải có phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc điểm, đối tượng học sinh. Môn Toán ở Tiểu học gồm 5 mạch kiến thức được bố trí xen kẽ nhau ở mỗi lớp học, trong đó phần “Số thập phân” là một trong những phần trọng tâm của số học trong chương trình Toán Tiểu học và được đưa vào giữa học kỳ I của Lớp 5. 2.Cơ sở thực tiễn Số thập phân là dạng toán còn mới đối với các em cho nên việc hình thành khái niệm Số thập phân là công việc rất khó khăn. Để phù hợp với tư duy trực quan của của lứa tuổi việc hình thành khái niệm số thập phân và các phép tính đối với số thập phân phải trải qua nhiều bước khác nhau trong đó chủ yếu là dựa vào phép đo đại lượng, trước hết là số đo độ dài. Trong dạy học phần này giáo viên thường không nắm vững hoặc không làm rõ được mối quan hệ giữa số thập phân, cấu tạo số thập phân của số với số đo độ dài, phân số thì sẽ dẫn đến khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức về số thập phân của học sinh, học sinh rất dễ sa vào tình trạng hiểu bài máy móc, không có cơ sở tin cậy, giáo viên còn áp đặt kiến thức. Trong thực tế giảng dạy của phần lớn giáo viên, tôi nhận thấy việc học sinh tự chiếm lĩnh nội dung kiến thức một cách chủ động và phát huy năng lực tự học và giải quyết vấn đề của mình trong quá trình học còn hạn chế. * Về phía giáo viên - Khi giới thiệu số thập phân, đa số giáo viên mới chỉ đưa ra các đơn vị kiến thức ở sách giáo khoa mà chưa chú trọng việc cho học sinh thực hành đo đại lượng, để giúp học sinh hiểu rõ bản chất khái niệm số thập phân. Nhất là việc học sinh tự đo độ dài đoạn thẳng và viết phép đo dạng phân số thập phân
- 5 để từ kết quả đo và khái niệm phân số để giải quyết vấn đề hình thành nên khái niệm số thập phân. - Trong khi đó, giáo viên chưa quan tâm đến việc phát triển các năng lực cần thiết cho học sinh, quan trọng nhất là năng lực tự học và giải quyết vấn đề. Giáo viên chưa tạo điều kiện, hướng dẫn học sinh tự học dựa vào kiến thức đã học để giải quyết vấn đề tìm ra kiến thức mới của bài. * Về phía học sinh Khi học về số thập phân, học sinh thường mắc phải một số sai lầm sau: - Học sinh chưa hiểu khái niệm cũng như bản chất về số thập phân, chưa hiểu rõ mối liên hệ giữa số thập phân và số tự nhiên, số thập phân và phân số. - Do nhầm lẫn giữa phần nguyên và phần thập phân của một số thập phân, nhầm lẫn giữa quy tắc cộng số tự nhiên với quy tắc nhân số thập phân, nhầm lẫn giữa quy tắc cộng số thập phân với quy tắc trừ số thập phân. - Do học sinh chưa biết cách tự học vận dụng những kiến thức đã học để khám phá, giải quyết vấn đề tìm ra kiến thức mới. - Bên cạnh những thực trạng nêu trên thì chương trình dạy học số thập phân, các phép tính với số thập phân ở sách giáo khoa Toán 5 thời lượng ít, các em chưa được luyện tập thực hành nhiều để nắm vững khái niệm số thập phân và rèn luyện kĩ năng tính toán với số thập phân. Bên cạnh đó, do học sinh tiếp thu bài một cách thụ động; một số em chưa chú ý nghe giảng nên nhiều em không nắm vững kiến thức cơ bản về số thập phân. 3. Các biện pháp Để các em lớp 5 hiểu rõ về số thập phân là việc làm không hề đơn giản và việc giúp các em nắm được bản chất của số thập phân cũng như phát triển năng lực tự học và giải quyết vấn đề thì lại càng khó hơn. Có một con đường tôi sử dụng là tiếp cận năng lực của học sinh, dựa vào kiến thức cũ để phát hiện kiến thức mới khi giảng dạy phần này.
- 6 3.1. Giúp học sinh nắm vững khái niệm ban đầu về số thập phân Đây là kiến thức cơ bản, là nền tảng đầu tiên để giúp học sinh biết cách đọc, viết, so sánh và thực hiện kĩ năng tính cộng, trừ, nhân, chia số thập phân từ đó vận dụng vào thực tế cuộc sống hàng ngày. Để giúp học sinh nắm vững khái niệm số thập phân, tôi thực hiện các việc sau đây: 3.1.1. Giúp học sinh nắm vững khái niệm ban đầu về số thập phân Để giúp học sinh nắm vững khái niệm ban đầu về số thập phân thì trước hết, người giáo viên Tiểu học cũng phải có những kiến thức cơ bản, hiểu rõ bản chất khái niệm số thập phân. Toán Tiểu học không xét các số thập phân vô hạn mà chỉ xét các số thập phân hữu hạn, nên ở Tiểu học khi nói tới số thập phân ta luôn hiểu là số thập phân hữu hạn. Các số này ứng với các phân số mà ta có thể biến đổi thành các phân số thập phân (tức là các phân số có mẫu là: 10; 100; 1000;...) 3.1.2. Hình thành khái niệm về số thập phân: Để phù hợp với tư duy trực quan của học sinh Tiểu học và phát triển được năng lực tự học và giải quyết vấn đề, việc giới thiệu số thập phân phải gắn liền với phép đo đại lượng và tiến hành theo hai bước: Bước 1: Học sinh tự do viết kết quả phép đo dạng phân số thập phân: Ví dụ 1: Cho học sinh quan sát, đo độ dài đoạn thẳng bằng thước 1m có vạch chia thành từng dm, cm, mm. Đo đoạn thẳng kết quả được 0m, do vậy phải chọn đơn vị nhỏ hơn là dm và đo được 1dm. - Ghi kết quả số đo là 0m 1dm. - Giáo viên hướng dẫn học sinh ghi kết quả đo theo cùng một đơn vị đo (đơn vị đo là m): 0m1dm = 0m + 1 m 10 Ví dụ 2: Cho học sinh quan sát đo độ dài cạnh bảng lớp học lần 1 đo được 1m nhưng chưa đủ 2m, lần 2 đo phần còn lại bằng đơn vị dm và đo được 8dm.
- 7 - Ghi kết quả đo là: 1m8dm. - Giáo viên hướng dẫn học sinh ghi kết quả đo theo cùng một đơn vị đo (đơn vị đo là m): 1m8dm = 1m + 8 m = 1 8 m . 10 10 Học sinh thực hành đo độ dài Bước 2: Từ kết quả phép đo và khái niệm phân số học sinh giải quyết vấn đề hình thành khái niệm số thập phân. 1 12 27 Ví dụ: viết thành 0,1; viết thành 0,12; viết thành 2,7 10 100 10 3.1.3. Bản chất khái niệm số thập phân Để nắm vững bản chất khái niệm số thập phân và khắc phục tình trạng học sinh thường nhầm lẫn giữa phần nguyên và phần thập phân của số thập phân, giáo viên nên cho học sinh thực hành đo độ dài để lấy thêm nhiều ví dụ về phân số thập phân rồi chuyển cách ghi từ dạng phân số thập phân sang cách ghi dạng số thập phân; xác định phần nguyên, phần thập phân rồi điền vào bảng. Ví dụ: Thực hành đo và viết kết quả đo dưới dạng phân số thập phân
- 8 + Chiều dài của quyển sách Toán, chiều dài cái bàn học ở lớp. + Chuyển cách ghi kết quả đo dưới dạng phân số thập phân sang cách ghi kết quả đo dưới dạng số thập phân, xác định phần nguyên và phần thập phân rồi điền vào bảng sau: Phần thập Đồ vật Số thập phân Phần nguyên phân Chiều dài quyển sách Toán 5 Chiều dài cái bàn học ở lớp Học sinh thực hành đo chiều dài quyển sách Toán lớp 5 3.1.4. Để giúp các em viết đúng số thập phâ: Giáo viên cần hướng dẫn học sinh nắm vững cấu tạo của số thập phân bằng cách viết từng chữ số của phần nguyên và phần thập phân vào từng hàng của số thập phân theo cấu tạo các hàng như sau: Phần nguyên Phần thập phân Viết số Hàng Hàng Hàng Phần Phần Phần thập phân , trăm chục đơn vị mười trăm nghìn
- 9 Ví dụ: Viết số thập phân có: + Bốn đơn vị, sáu phần mười + Chín mươi sáu đơn vị, bảy phần trăm + Một trăm ba mươi hai đơn vị, năm phần mười, tám phần trăm Học sinh thực hành viết số, xác định từng chữ số ở mỗi hàng rồi điền vào bảng như trên. 3.2. Áp dụng phương pháp giải quyết vấn đề tạo tình huống để dạy số thập phân Để áp dụng được phương pháp này, bản thân người giáo viên cần hiểu rõ được phương pháp cũng như các bước thực hiện. Quy trình gồm các bước như sau: Bước 1: Cho học sinh phát hiện ra những vấn đề chưa ra và xem đó là vấn đề cần được giải quyết trong tiết học đó. Bước 2: Từ những vướng mắc cần giải quyết ở trên, cho học sinh độc lập suy nghĩ hoặc thảo luận nhóm để đưa ra các ý tưởng giải quyết vấn đề. Giáo viên nhận xét, bổ sung thêm để hình thành ý tưởng chung. Bước 3: Cho học sinh suy nghĩ tiếp và dự đoán hay đề xuất giả thuyết về nội dung kiến thức, kĩ năng mới. Bước 4: Cho học sinh kiểm tra giả thuyết đó đề xuất qua một số ví dụ cụ thể để khẳng định đó là kiến thức, kĩ năng mới. Bước 5: Sau khi kiểm tra và khẳng định giả thuyết đó là đúng, giáo viên cho học sinh phân tích tìm ra kết luận chung về kiến thức, kĩ năng mới. 3.2.1. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề * Gợi tình huống có vấn đề từ thực tiễn Đó là các tình huống xuất phát từ thực tiễn và có chứa những vấn đề về toán học thường được xây dựng khi dạy các loại bài hình thành kiến thức mới cho hs. Ví dụ: Dạy Phép cộng số thập phân - Gv đưa ra bài toán: Biết đoạn thứ nhất dài 2,3dm và đoạn thứ hai dài 5,6dm. Hỏi cả hai đoạn dây dài bao nhiêu đề-xi-mét?
- 10 - Đối với hs lớp 5 thì việc biết được muốn tính độ dài sợi dây thì cần phải tính tổng độ dài của hai đoạn cắt ra là một việc làm đơn giản. Tuy nhiên tình huống gợi ra ở đây đối với hs là: độ dài của hai đoạn dây đều là những số thập phân. - Từ tình huống đó, hs phải phát huy những khả năng của mình tìm cách giải quyết vấn đề là làm thế nào để tìm được kết quả của phép cộng hai số thập phân đó. - Tuỳ theo từng đối tượng học sinh có thể đưa ra các giải pháp. Ví dụ: + Đổi các số do dưới dạng số tự nhiên (đổi ra cm) rồi thực hiện phép cộng, sau đó đổi về đơn vị dm dưới dạng số thập phân. + Đổi các số thập phân về dạng phân số thập phân rồi thực hiện cộng hai phân số sau đó đưa kết quả về dạng số thập phân. * Gợi tình huống có vấn đề từ kiến thức đã học Đó là các tình huống có chứa những vấn đề về toán học thường được xây dựng khi dạy các loại bài hình thành kiến thức mới cho hs đòi hỏi học sinh dựa trên những kiến thức đã học để giải quyết tình hướng đưa ra. Ví dụ: Viết các số đo độ dài dưới dạng số thập phân - Gv đưa ra bài toán: Viết số thập phân thích hợp vào chỗ trống: 6m 4dm = ... m - Đối với hs thì việc đổi từ đơn vị lớn hơn sang đơn vị nhỏ hơn là một việc làm đơn giản. Tuy nhiên tình huống gợi ra ở đây đối với hs là: đổi đơn vị thành số thập phân. - Từ tình huống đó, hs phải phát huy những khả năng của mình tìm cách giải quyết vấn đề là làm thế nào để đổi được thành thập phân đó. Học sinh thảo luận và chia sẻ bài trước
- 11 - Tuỳ theo từng đối tượng học sinh, các em có thể vận dụng những kiến thức đã học để đưa ra các giải pháp. + Có thể đổi số đo thành hỗn số => phân số => số thập phân. + Có thể đổi số đo thành hỗn số => số thập phân. 3.2.2. Ví dụ * Ví dụ 1: Khi dạy bài "Viết các số đo độ dài dưới dạng số thập phân" ta có thể áp dụng như sau TOÁN Viết các số đo độ dài dưới dạng số thập phân. I. YÊU CẦU CẦN ĐẠT: - HS biết viết số đo độ dài dưới dạng số thập phân. Chuyển đổi số đo độ dài. - HS tự hoàn thành các BT, hợp tác và gải quyết vấn đề. - Chăm học, chăm làm, tích cực tham gia hoạt động học tập. II. ĐỒ DÙNG DẠY – HỌC: - GV: Phiếu học tập. - HS: Bảng con. III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY – HỌC: Hoạt động của HS Hỗ trợ của GV *HĐ1. Viết các số đo dộ dài dưới dạng số thập phân Bước 1: Nhận ra vấn đề - Viết số thập phân thích hợp vào chỗ - Y/c học sinh viết số thập phân trống: 6m 4dm = ... m thích hợp. Bước 2: HS suy đoán - Cá nhân HS nêu ý kiến của mình. - Yêu cầu HS nêu ý kiến nhận định ban đầu về số để điền vào chỗ Bước 3: Tìm cách giải quyết vấn đề trống.
- 12 - Có thể đổi số đo thành hỗn số => phân số => số thập phân. - Có thể đổi số đo thành hỗn số => số - Làm thế nào để tìm ra kết quả. thập phân. Bước 4: Triển khai các giải pháp - Lắng nghe các giải pháp của hs. - HS làm vào phiếu học tập: lựa chọn giải pháp để tìm ra kết quả. - Hs chia sẻ nhóm đôi cách làm của - Quan sát, giúp đỡ hs gặp khó khăn mình với bạn. Bước 5: Khẳng định giải pháp, kết - Q/s các nhóm chia sẻ với nhau. quả - Hs sinh kết quả và cách làm của mình: + 6m 4dm = 6,4m - GV viết nhanh cách làm lên Cách làm: 6m 4dm = 6 4 m = 6,4m bảng: 10 6m 4dm = 6 4 m = 64m = 10 10 - GV nhận xét cách làm của hs. 6,4m - Lắng nghe Gv chốt cách làm. - Chốt lại cách làm nhanh nhất: 6m 4dm = 6,4m CL: 6m 4dm = 6 4 m = 6,4m 10 - Tương tự hs làm vd vào nháp: 3m 5cm = ... m - Quan sát hs làm bài. - Nêu cách viết các số đo độ dài dưới dạng số thập phân. - Nêu KL:... *HĐ2. Luyện tập Ở các tiết học trước học sinh đã được học viết các số đo thành hỗn số => phân số. Hoặc viết số đo thành hỗn số, nên ở tiết học này HS có thể vận
- 13 dụng những kiến thức đã học để tìm và khám phá ra kiến thức mới dưới phương pháp giải quyết vấn đề. Tương tự như vậy ta có thể áp dụng sang các tiết khác: * Ví dụ 2: Khi dạy bài "Viết các số đo khối lượng dưới dạng số thập phân" ta có thể áp dụng như sau TOÁN Viết các số đo khối lượng dưới dạng số thập phân I. YÊU CẦU CẦN ĐẠT: - Biết viết số đo khối lượng dưới dạng số thập phân. Chuyển đổi đơn vị đo khối lượng nhanh, chính xác. - Tích cực tham gia hoạt động cá nhân, nhóm, lớp. - Biết chia sẻ và giúp đỡ bạn khi gặp khó khăn. II. ĐỒ DÙNG DẠY - HỌC: - Bảng con, phiếu học tập. III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY – HỌC: Hoạt động của HS Hỗ trợ của GV *HĐ1. Viết các số đo khối lượng dưới dạng số thập phân Bước 1: Nhận ra vấn đề - Viết số thập phân thích hợp vào chỗ - Y/c học sinh viết số thập phân trống: thích hợp. 5tấn 132kg = ... tấn Bước 2: HS suy đoán - Yêu cầu HS nêu ý kiến nhận - Cá nhân HS nêu ý kiến của mình. định ban đầu về số để điền vào chỗ trống. Bước 3: Tìm cách giải quyết vấn đề - Làm thế nào để tìm ra kết - Có thể đổi số đo khối lượng thành hỗn số quả. => phân số => số thập phân. - Lắng nghe các giải pháp của

