Báo cáo Biện pháp Phát triển năng lực tính toán thông qua trò chơi học tập trong dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 3 theo Chương trình GDPT 2018

docx 15 trang Chăm Nguyễn 17/08/2025 540
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Biện pháp Phát triển năng lực tính toán thông qua trò chơi học tập trong dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 3 theo Chương trình GDPT 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_bien_phap_phat_trien_nang_luc_tinh_toan_thong_qua_tr.docx
  • pdfBáo cáo Biện pháp Phát triển năng lực tính toán thông qua trò chơi học tập trong dạy học môn Tiếng V.pdf

Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Phát triển năng lực tính toán thông qua trò chơi học tập trong dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 3 theo Chương trình GDPT 2018

  1. 3 môn Tiếng Việt. Tôi đã dành thời gian nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu thực tế về đối tượng học sinh và nội dung chương trình các phân môn Tiếng Việt lớp 3 nhằm đưa ra một số kinh nghiệm thông qua biện pháp: “Phát triển năng lực tính toán thông qua trò chơi học tập trong dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 3 theo Chương trình GDPT 2018”. 2. Mục đích nghiên cứu Trong quá trình dạy học trên lớp tôi nhận thấy học sinh còn rất thụ động, chưa ham học, việc học tập còn phụ thuộc vào sự hướng dẫn của giáo viên. Với mong muốn giúp học sinh chủ động hơn trong việc học, tăng sự hấp dẫn của tiết học và học sinh yêu thích các giờ học. Tôi đã dựa trên thực trạng dạy và học các phân môn Tiếng Việt nghiên cứu, tìm tòi vận dụng một số trò chơi học tập nhằm phát triển năng lực tính toán thông qua trò chơi học tập trong dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 3 của tôi. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu nội dung các bài học trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 3 để có thể tạo các trò chơi học tập phù hợp với nội dung từng bài học. - Điều tra những khó khăn mà giáo viên và học sinh thường mắc trong quá trình giảng dạy và học tập. - Đề xuất ra những biện pháp khắc phục giúp các em phát triển năng lực tính toán thông qua trò chơi học tập môn Tiếng Việt. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Học sinh lớp 3A, năm học 2021-2022. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu lý thuyết. - Phương pháp trực quan. - Phương pháp thực nghiệm. - Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê. - Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm.
  2. 4 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1.Cơ sở lý luận Ở bậc học Tiểu học hiện nay việc sử dụng các loại trò chơi ngôn ngữ vào hoạt động dạy học là một phương pháp giảng dạy có hiệu quả. Trò chơi học tập giúp các em được giải trí song vẫn hoàn thành được mục tiêu bài học, củng cố kiến thức, kĩ năng cho các em. Các em tự tìm phương án để giải quyết những vấn đề đưa ra trong trò chơi, kích thích sự chú ý của học sinh nhằm hoàn thành nhiệm vụ, từ đó việc chiếm lĩnh kiến thức của học sinh đạt được một cách nhẹ nhàng. Để vận dụng hiệu quả được trò chơi học tập giáo viên cần hiểu được khái niệm trò chơi và trò chơi học tập. Trò chơi là một hoạt động tự nhiên và cần thiết nhằm thỏa mãn những nhu cầu giải trí đa dạng của con người. Trò chơi còn là một phương pháp giáo dục thực hành hiệu nghiệm nhất đối với việc hình thành nhân cách, trí lực của trẻ em. Bên cạnh đó trò chơi là một phương tiện giáo dục và giải trí giúp cho cá nhân được rèn luyện, tập thể có được bầu không khí vui vẻ, thân ái và thông cảm. Trò chơi học tập là dạy học thông qua việc tổ chức hoạt động cho học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được hoạt động bằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của trò chơi là truyền tải mục tiêu của bài học. Luật chơi, cách chơi thể hiện nội dung và phương pháp học, đặc biệt là phương pháp học tập có sự hợp tác và tự đánh giá. Hiểu được bản chất, vai trò và tác dụng của trò chơi, trò chơi học tập nhằm áp dụng hiệu quả nhất cho các môn học. Việc sử dụng trò chơi học tập dành cho môn Tiếng Việt như thế nào để đạt được mục tiêu giáo dục mới là vấn đề cần thiết đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu nội dung bài dạy và thiết kế phù hợp. 2.Cơ sở thực tiễn Qua nhiều năm giảng dạy và chủ nhiệm lớp 3. Qua nắm bắt tình hình và khảo sát đầu năm cho thấy mặt bằng về chất lượng học sinh chưa cao, học sinh sau kì nghỉ hè đã có hiện tượng đọc, viết chậm. Học sinh còn rụt rè, thiếu
  3. 5 tự tin trong giao tiếp, thụ động trong học tập, đó là vấn đề nan giải khiến bản thân tôi lo lắng. Tôi luôn tâm niệm học sinh chưa đạt kết quả cao trong học tập đa phần do đọc viết chưa tốt, chưa có khả năng diễn đạt. Vì thế để học sinh hiểu bài trước hết học sinh cần phải đọc viết tốt,mạnh dạn, tự tin trao đổi với bạn bè, thầy cô. Để giúp học sinh có thể thực hiện được những điều này giáo viên cần sáng suốt tìm phương án giải quyết vấn đề. Bản thân tôi tìm thấy mấu chốt của vấn đề này là do chất lượng môn Tiếng Việt còn thấp. Qua khảo sát cụ thể ở lớp 3A chất lượng môn Tiếng Việt tôi nhận thấy tình trạng học sinh đọc, viết chậm còn tồn tại, vẫn còn một số học sinh chưa hoàn thành cụ thể như sau: Kết quả đạt được môn Tổng Tiếng Việt Thời số Hoàn thành Hoàn Chưa hoàn Ghi chú điểm HS tốt thành thành SL % SL % SL % Đầu năm 34 17 50 15 44,1 2 5,9 3. Các biện pháp Đưa trò chơi vào quá trình dạy học là biến việc học trên lớp của học sinh thành một cuộc chơi. Thông qua việc vui chơi mà học sinh tiếp thu được kiến thức mới một cách nhẹ nhàng, không gây áp lực. Để các trò chơi học tập thực sự có hiệu quả thì giáo viên cần phải căn cứ vào nội dung chương trình sách giáo khoa, bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng, dựa vào các tài liệu tham khảo, các kênh thông tin có liên quan, kinh nghiệm giảng dạy của bản thân để thực hiện. 3.1. Trò chơi “Ai nhanh ai đúng” Mục tiêu: - Học sinh trả lời được nội dung các câu hỏi trong bài đọc thông qua việc viết thêm các từ ngữ. - Rèn cho học sinh kĩ năng phản ứng nhanh, nâng cao năng lực tính toán cho học sinh. Chuẩn bị đồ dùng: Bảng phụ, bút dạ.
  4. 6 Cách tiến hành: Bước 1: Giáo viên chia lớp làm 6 nhóm, mỗi nhóm có 5-6 học sinh. Bước 2: Giáo viên nêu câu hỏi và treo bảng phụ ghi nội dung câu hỏi (mỗi nhóm một bảng phụ). Bước 3: Các nhóm chơi thực hiện yêu cầu. Bước 4: Các nhóm và giáo viên nhận xét kết quả. Giáo viên kết luận và tuyên dương nhóm thắng cuộc (Nhóm nào làm đúng và nhanh nhất là nhóm thắng cuộc). Ví dụ minh họa Trong bài tập đọc Ba con búp bê phần luyện tập, trong SGK trang 56, Tiếng việt lớp 3-Tập 1. Hãy viết thêm các từ ngữ tương ứng cho mỗi nhóm: Bước 1: Giáo viên treo bảng phụ (5 bảng phụ tương ứng 5 nhóm) - Nội dung các bảng phụ như sau: a. Chỉ người thân trong gia đình: Bố,..................................... b. Chỉ đồ dùng trong gia đình: Tủ,.......................................... c, Chỉ tình cảm gia đình: Yêu thương,.................................... Học sinh làm việc nhóm
  5. 7 Bước 2: Giáo viên nêu câu hỏi: Hãy viết thêm các từ ngữ tương ứng cho mỗi nhóm: Các nhóm chơi Bước 3: Các nhóm báo cáo kết quả Bước 4: Các nhóm nhận xét lẫn nhau. Giáo viên nhận xét và kết luận nhóm thắng cuộc. 3.2. Trò chơi “Hái hoa” Mục tiêu: - Dùng trong các bài ôn tập giữa kì, cuối kì hoặc ôn các bài học thuộc lòng. - Trả lời được các câu hỏi có liên quan đến bài đọc - Kiểm tra được việc học và ôn bài của học sinh. Chuẩn bị đồ dùng: Một cây hoa - Các bông hoa giấy để làm phiếu (mỗi bông hoa ghi nội dung cần ôn tập hoặc kiểm tra). Cách tiến hành: - Học sinh chơi từng cá nhân Cách chơi: Bước 1: Giáo viên gắn sẵn hoa lên cây và nêu yêu cầu trò chơi. Bước 2: Từng em lên hái hoa và đọc yêu cầu của mình. Bước 3: Học sinh thực hiện yêu cầu. Bước 4: Học sinh khác nghe và nhận xét bạn (về giọng đọc, cách trả lời). Bước 5: Lớp bình chọn bạn đọc hay và đúng nhất. Giáo viên tuyên dương. 3.3. Trò chơi “Ai đóng vai giỏi nhất” Mục tiêu: - Học sinh có thể sắm vai các nhân vật để dựng lại toàn bộ câu chuyện. - Gây hứng thú cho giờ học, làm cho câu chuyện trở nên sống động. - Rèn kĩ năng diễn đạt biểu cảm, khả năng sáng tạo, vận dụng từ ngữ. Chuẩn bị: Một số đồ dùng hoặc trang phục (dễ tìm kiếm nhất). Cách tiến hành: Bước 1: Giáo viên chia nhóm (tùy theo từng câu chuyện để chia số lượng HS cho phù hợp với số lượng nhân vật).
  6. 8 Bước 2: Học sinh thảo luận trong nhóm để sắm vai. Bước 3: Các nhóm lên dựng lại câu chuyện theo các vai. Bước 4: Các nhóm khác và giáo viên nhận xét, bình chọn nhóm kể hay nhất, đóng vai nhân vật đạt nhất để tuyên dương. Học sinh đóng vai kể lại câu chuyện 3.4. Trò chơi “Tiếp sức” Mục tiêu: - Xếp các từ ngữ dưới đây vào nhóm thích hợp. - Luyện trí thông minh, nhanh tay nhanh mắt. - Bồi dưỡng thêm kiến thức từ ngữ. Chuẩn bị: Các từ ngữ gắn trên bảng. Cách tiến hành: Bước 1: Giáo viên chia nhóm. Bước 2: Giáo viên đưa ra hệ thống từ ngữ. Bước 3: Học sinh các nhóm nối tiếp nhau xếp các từ ngữ vào nhóm thích hợp (mỗi học sinh chỉ được viết 1 từ/ lượt sau đó về vị trí) Bước 4: Giáo viên căn cứ vào các từ mà các nhóm ghép được để phân định thắng thua.
  7. 9 Ví dụ minh họa: Ở bài Ôn tập giữa học kì 1 tiết 4 SGK TV3-Tập 1 Học sinh chơi tiếp sức 3.5. Trò chơi “Giải ô chữ” Mục tiêu: - Hoàn thành nội dung bài tập. Rèn luyện óc quan sát, nhận xét nhanh nhạy. - Luyện kĩ năng nhận biết và đoán từ thông qua nội dung câu hỏi gợi mở bằng các ô chữ cụ thể. Chuẩn bị: - Giáo viên kẽ sẵn ô chữ theo từng chủ đề và nội dung kiến thức mỗi bài. Cách tổ chức: Bước 1: Giáo viên chia nhóm, cho các nhóm lần lượt lựa chọn các ô chữ bất kì. Bước 2: Người chơi nghe câu hỏi của mình và suy nghĩ trả lời. Bước 3: Giáo viên cho các ô chữ xuất hiện lần lượt (nếu nhóm đó trả lời sai, phần trả lời dành cho nhóm khác), khi các ô chữ hàng ngang được giải sẽ xuất hiện ô chữ từ khóa. Bước 4: Giáo viên tuyên dương sau mỗi lần giải đúng ô chữ (Giáo viên tặng cho 1 bông hoa) Bước 5: Kết thúc trò chơi, Giáo viên nhận xét kết luận (nhóm nào nhận được nhiều hoa nhất nhóm đó thắng cuộc).
  8. 10 Học sinh giải ô chữ 3.6. Trò chơi “Phóng viên” Mục tiêu: - Học sinh có thể trả lời các câu hỏi trong bài học khi hỏi đáp với nhau với vai trò là một phóng viên. - Rèn cho học sinh kĩ năng sử dụng câu hỏi, nhanh nhẹn, tự tin trong giao tiếp. - Gây hứng thú, vui vẻ cho tiết học sôi nổi và hiệu quả hơn. Đồ dùng: Chuẩn bị trước Micro. Cách tiến hành: Bước 1: GV đưa ra nhiệm vụ (phù hợp với nội dung bài tập cần thực hiện) Bước 2: Học sinh chuẩn bị và thực hiện yêu cầu theo nhóm đôi (2 bạn ngồi cùng bàn là một nhóm, sẽ: hỏi-đáp trong khoảng thời gian 1 phút). Bước 3: Các nhóm lên thực hiện Bước 4: Học sinh các nhóm khác và giáo viên nhận xét (Nhóm nào thực hiện tốt, đầy đủ đúng yêu cầu, cả 2 bạn đều diễn đạt rõ ràng, lưu loát các nội dung sẽ là nhóm thắng cuộc). Giáo viên tuyên dương nhóm thắng cuộc trước lớp. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG Sau khi áp dụng trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt tôi đã thu nhận được những thành quả sau:
  9. 11 Sử dụng trò chơi học tập vào giảng dạy các bài đọc ngoài việc đã truyền thụ được những kiến thức, kĩ năng cần đạt theo yêu cầu của bài học tôi còn giúp cho học sinh luyện đọc tốt và nắm vững nội dung bài tập đọc một cách nhẹ nhàng. Qua các trò chơi các em tự tìm ra nội dung của bài, hiểu và khắc sâu nội dung. Hiệu quả hơn nữa là lớp học trở nên sôi nổi, vui vẻ mỗi khi giáo viên chuyển sang hoạt động Tìm hiểu bài. Với những tiết Nói và nghe, trò chơi học tập đưa các em từ ngại học sang yêu thích, hào hứng và chờ đợi. Các em cũng tập trung chuẩn bị bài ở nhà rất tốt vì các em muốn được các bạn và cô khen sau mỗi phần kể chuyện hoặc sắm vai nhân vật. Điều khiến tôi vui mừng nhất chính là vốn từ ngữ của học sinh ngày càng phong phú, học sinh ham học hỏi, tìm tòi từ ngữ trong, ngoài bài từ đó giúp các em có vốn từ đa dạng. Các em đã biết sử dụng câu đúng mục đích trong giao tiếp. Quan trọng hơn cả là sự thay đổi tình cảm của học sinh dành cho môn Tiếng Việt từ việc ngại học, tâm lý mệt mỏi, uể oải chuyển sang yêu thích, hào hứng giờ học các phân môn Tiếng Việt. Trong các buổi học, trò chơi học tập đã giúp cho giờ học trở nên hấp dẫn hơn, tạo hứng thú học tập cho học sinh. Bên cạnh đó trong các tiết học các em được vận động cả trí não và vận động cả cơ thể khi tham gia chơi trò chơi nên các em rất vui vẻ, thoải mái. Sự phối hợp giữa giáo viên và học sinh chủ động và nhịp nhàng hơn. Nhiều học sinh được tham gia nên đã rèn luyện thêm các kĩ năng: giao tiếp,diễn đạt, hợp tác...giúp các em học tốt hơn cả các môn học khác. Tóm lại: Trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt là một phương pháp giảng dạy hay, hiệu quả cần được nhân rộng hơn nữa trong các nhà trường. Bản thân tôi sau thời gian áp dụng trò chơi học tập vào giảng dạy Tiếng Việt ở lớp 3A đã đem lại chuyển biến rõ rệt, chất lượng học sinh được nâng lên cụ thể như sau:
  10. 12 Kết quả đạt được như sau: Kết quả đạt được môn Tiếng Việt Tổng Hoàn thành Chưa hoàn Ghi Thời điểm Hoàn thành số HS tốt thành chú SL % SL % SL % Đầu năm 34 17 50 15 44,1 2 5,9 Cuối năm 34 24 70,5 10 29,5 Qua những kết quả đạt được nêu trên đã chứng minh được tính khả thi của biện pháp. Biện pháp có tính ứng dụng cao có thể áp dụng cho tất cả các khối lớp ở bậc Tiểu học. Không khí vui vẻ, thoải mái trong các tiết học IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Với mong muốn trò chơi học tập được vận dụng dễ dàng, hiệu quả và thường xuyên vào dạy học bản thân tôi đã thiết kế cụ thể, rõ ràng các bước thực hiện, đồ dùng sử dụng cho tất cả các trò chơi chỉ cần chuẩn bị một lần và có thể tái sử dụng lại trong các tiết học khác nhau. Tuy nhiên để vận dụng tốt
  11. 13 hơn nữa trò chơi học tập các phân môn Tiếng Việt vào giảng dạy giáo viên cần phải thực hiện tốt những lưu ý sau: Mục tiêu của trò chơi phải thực hiện được nội dung (hoặc một phần nội dung) của bài học. Trong một tiết học chỉ nên sử dụng trò chơi học tập cho một bài tập hoặc một hoạt động, không nên lạm dụng quá nhiều. Hình thức tổ chức phải đa dạng, phối hợp hài hòa giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động vận động. Luật chơi đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện. Nhiều học sinh được tham gia qua đó tăng cường kỹ năng hợp tác. Sau mỗi trò chơi phải có phần kết luận khắc sâu nội dung bài. Giáo viên chia nhóm phải hợp lý để học sinh hoàn thành tốt trò chơi. Giáo viên phải công tâm khi nhận xét, đánh giá học sinh, khen chê hợp lý. Tránh trường hợp học sinh quá khích, háo thắng nên chơi gian lận, người thua buồn, giận hờn. 2. Kiến nghị 2.1. Đối với Phòng Giáo dục&Đào tạo Cần tăng cường hơn nữa việc tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo cụm để các trường có cùng chung đầu sách tìm tòi và tháo gỡ những khó khăn trong quá trình dạy học theo Chương trình GDPT 2018. 2.2. Đối với nhà trường Tiếp tục tham mưu với Phòng Giáo dục cử giáo viên tham gia các lớp học bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Hàng năm tăng cường công tác mua sắm trang thiết bị, đồ dùng dạy học, sách, tài liệu tham khảo. Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn nhà trường nên đưa ra các biện pháp, hiệu quả để học hỏi và sử dụng vào giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng học sinh.