Báo cáo Biện pháp phát triển năng lực thẩm mĩ trong dạy học môn Mĩ thuật theo Chương trình GDPT 2018

docx 24 trang Chăm Nguyễn 17/08/2025 480
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Biện pháp phát triển năng lực thẩm mĩ trong dạy học môn Mĩ thuật theo Chương trình GDPT 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_bien_phap_phat_trien_nang_luc_tham_mi_trong_day_hoc.docx
  • pdfBáo cáo Biện pháp phát triển năng lực thẩm mĩ trong dạy học môn Mĩ thuật theo Chương trình GDPT 2018.pdf

Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp phát triển năng lực thẩm mĩ trong dạy học môn Mĩ thuật theo Chương trình GDPT 2018

  1. 3 2. Mục đích nghiên cứu - Biện pháp “Phát triển năng lực thẩm mĩ trong dạy học môn Mĩ thuật theo Chương trình GDPT 2018” nhằm mục đích đưa ra một số biện pháp giúp phát triển năng lực thẩm mĩ cho học sinh theo Chương trình giáo dục phổ thông mới đạt hiệu quả cao. - Khắc phục cho học sinh những hạn chế, thiếu sót trong quá trình sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ. - Dạy học gắn liền với thực tiễn và phát triển các năng lực, phẩm chất cho HS. - Giáo dục và phát triển năng lực thẩm mĩ giúp các em vận dụng vào cuộc sống một cách linh hoạt và gần gũi hơn. Giờ học Mĩ thuật trở nên hấp dẫn, kích thích hứng thú học tập của học sinh. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện tốt biện pháp nghiên cứu, người thực hiện biện pháp này cần phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn môn Mĩ thuật. -Dự giờ đồng nghiệp, rút kinh nghiệm, trao đổi để học hỏi kinh nghiệm phát triển năng lực thẩm mĩ cho học sinh của các trường bạn. - Điều tra sự hứng thú, thay đổi, tiến bộ của học sinh trong quá trình học tập, tham gia các hoạt động nhằm phát triển năng lực thẩm mĩ để từ đó có sự điều chỉnh, bổ sung hợp lý. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Học sinh các khối từ 1 đến 5 và giáo viên Mĩ thuật. - Phạm vi nghiên cứu: Đề tài xoay quanh nghiên cứu biện pháp phát triển năng lực thẩm mĩ trong dạy học môn Mĩ thuật theo Chương trình GDPT 2018.
  2. 4 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp trao đổi, thảo luận: Sau khi tham quan dự giờ trường bạn, người thực hiện biện pháp và đồng nghiệp tiến hành trao đổi, thảo luận, chia sẻ để từ đó rút ra những kinh nghiệm cho bản thân. - Phương pháp quan sát: Người thực hiện biện pháp tự tìm tòi nghiên cứu, tiến hành dự giờ thăm lớp của đồng nghiệp, quan sát cách bố trí trang trí lớp học, tổ chức các hoạt động dạy học,... ở các trường bạn. - Phương pháp điều tra: Giáo viên đặt câu hỏi để kiểm tra đánh giá việc nắm nội dung bài học của học sinh sau khi giáo viên áp dụng một số biện pháp phát triển năng lực thẩm mĩ cho học sinh. - Phương pháp thực nghiệm: Giáo viên tiến hành dạy thể nghiệm theo từng mục đích yêu cầu cụ thể của từng chủ đề để thấy được tính hiệu quả của biện pháp. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1.Cơ sở lý luận Mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông mới môn Mĩ thuật tập trung phát triển năng lực thẩm mỹ, cụ thể ở các năng lực thành phần đặc thù của môn học. Giáo dục thẩm mỹ là giáo dục năng lực sáng tạo, làm cho sự sáng tạo theo qui luật của cái đẹp trở thành nhu cầu và tác động tới mọi lĩnh vực hoạt động sống của con người. Giáo dục thẩm mỹ là giáo dục tình cảm, thị hiếu và lý tưởng thẩm mỹ đúng đắn, lành mạnh để phát triển toàn diện nhân cách. Khi nói đến thị hiếu là nói đến hành động lựa chọn: một mốt thời trang, một cuốn sách, một băng nhạc, một bức tranh và mọi tình cảm, mọi hành động của con người đều dựa trên cơ sở lý trí nhất định. Thị hiếu thẩm mỹ mang dấu ấn cá nhân, là sở thích của cá nhân, nhưng đồng thời nó mang tính xã hội sâu sắc và phụ thuộc vào thị hiếu chung của xã hội. Qua đó, chúng ta thấy được năng lực thẩm mĩ quan trọng như thế nào đối với đời sống con người nói chung và đối với các em học sinh nói riêng. Nhiều
  3. 5 giải pháp đã và đang được nghiên cứu và áp dụng để góp phần thực hiện mục tiêu phát triển năng lực thẩm mĩ cho học sinh. Chính vì vậy đòi hỏi người giáo viên không chỉ nắm vững nội dung, mục tiêu bài học mà phải có phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc điểm, đối tượng học sinh. Hiện nay, môn Mĩ thuật ở Tiểu học là môn học bắt buộc giúp phát triển con người một cách toàn diện về Đức-Trí-Thể-Mĩ. 2.Cơ sở thực tiễn - Thực tế nhà trường có phòng học Nghệ thuật rộng rãi, thoáng mát, đầy đủ về diện tích, bàn ghế cho giáo viên và học sinh, có máy chiếu được đặt tại lớp học,... giúp việc dạy học theo chủ đề và lên lớp được thuận lợi hơn. Ban giám hiệu nhà trường luôn sát sao với tất cả các hoạt động trong và ngoài Nhà trường. Phụ huynh học sinh quan tâm đến việc học tập của con em. Học sinh yêu thích môn học và có tương đối đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập khi đến trường. Phương tiện, trang thiết bị dạy học cơ bản đảm bảo cho hoạt động của thầy và trò. - Bên cạnh đó cũng còn một số hạn chế nhất định: Bộ đồ dùng, sản phẩm mẫu, tài liệu phục vụ cho dạy học Mĩ thuật mới còn chưa có nhiều, chủ yếu là học liệu điện tử. Hiện nay một số gia đình của HS còn thiếu sự quan tâm với môn học do điều kiện kinh tế, hoàn cảnh gia đình,...Nhìn chung hầu hết các em rất thích học môn Mĩ thuật. Song vì khả năng diễn đạt yếu tố thẩm mĩ còn hạn chế nên dễ dẫn đến tự ti, chán nản trong quá trình học tập. Khả năng cảm thụ, sáng tạo và vận dụng yếu tố thẩm mĩ vào thực hành còn gặp nhiều khó khăn. Chính các yếu tố trên đã gây trở ngại đến kết quả học tập, đến khả năng cảm thụ và tạo ra cái đẹp của học sinh. Để chất lượng dạy và học Mĩ thuật có bước đột phá cần phát triển năng lực thẩm mĩ cho học sinh. Nếu đạt hiệu quả sẽ có tác động rất lớn đến chất lượng dạy học Mĩ thuật theo chương trình GDPT 2018.
  4. 6 3. Các biện pháp Tôi đã áp dụng thử một số giải pháp cho học sinh ở trường tôi rồi khảo sát, so sánh kết quả với trước khi có những biện pháp khắc phục để thấy rõ hơn hiệu quả của một số biện pháp: 3.1. Tạo môi trường học tập thân thiện cho học sinh - Muốn tạo được môi trường thân thiện cho học sinh thì chúng ta phải xây dựng phòng học Mĩ thuật thân thiện. + Sơn mới phòng học do sơn lâu ngày ố, bẩn tạo không gian lớp học sạch sẽ, thoáng mát, . + Trang trí khẩu hiệu, tranh ảnh mang tính thẩm mĩ.
  5. 7 - Ngoài ra cần phải tổ chức, hướng dẫn học sinh xây dựng nội quy lớp học và thực hiện nội quy ngay từ lớp 1 như: + Thực hiện xếp hàng lên lớp học một cách trật tự; + Để dép đúng nơi quy định, + Sách vở, đồ dùng trên bàn phải sắp xếp một cách gọn gàng, ngăn nắp. + Cùng nhau vệ sinh lớp học sau mỗi giờ học. Khi thực hiện tốt một số nội quy, quy định trên HS sẽ phát triển được năng lực tự quản, tự phục vụ, chăm học, chăm làm, tính kỉ luật, . Các em sẽ tự giác hơn trong quá trình học tập, có thói quen học tập nghiêm túc, nề nếp. Không gian lớp học đẹp, ngăn nắp, vệ sinh sạch sẽ góp phần bồi dưỡng tính thẩm mĩ cho học sinh. HS xếp hàng lên phòng Mĩ thuật Giày, dép xếp ngay ngắn ngoài để học cửa lớp. Đồ dùng xếp gọn gàng, Học sinh vệ sinh lớp học ngay ngắn trên bàn cuối buổi học. - Tạo môi trường tinh thần cho học sinh: Giáo viên bố trí chỗ ngồi hợp lí cho học sinh. Có thể luân phiên học sinh giữa các nhóm; bố trí học sinh ngồi xen kẽ theo giới và theo năng lực tạo môi trường học tập mới cho HS.
  6. 8 Rèn HS kĩ năng giao tiếp, hợp tác. Luôn thể hiện sự tôn trọng, thương yêu học sinh. - Tạo môi trường bình đẳng giữa các học sinh thông qua nhận xét, đánh giá, ứng xử của giáo viên. Học sinh với học sinh thân thiện, cởi mở. Như vậy các em sẽ tự tin hơn, đặc biệt là học sinh khuyết tật, học sinh khó khăn, Học sinh được tôn trọng, yêu thương, bạn bè quan tâm, gần gũi, cởi mở thì tất cả các em sẽ tự tin hơn, sáng tạo hơn góp phần bồi dưỡng năng lực thẩm mĩ cho các em. 3.2. Xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp theo định hướng phát triển năng lực Để thực hiện tốt việc dạy học phát triển năng lực thẩm mĩ cho HS, giáo viên cần nghiên cứu kĩ các nội dung trong tài liệu tập huấn, sách giáo khoa, sách giáo viên Mĩ thuật mới như: - Theo Chủ đề: Mỗi chủ để thường kéo dài 2-4 tiết học/35 tiết/35 tuần học. Riêng khối 1+2+3 hiện nay thì mỗi chủ để thường kéo dài 1-2 tiết học/35 tiết/35 tuần học. - Năng lực chung mĩ thuật theo các chủ đề dựa trên sự liên kết các phân môn Mĩ thuật như: Vẽ, nặn, cắt, xé dán, thường thức mĩ thuật,
  7. 9 - Yêu cầu cần đạt đối với HS dựa trên mục tiêu của từng tiết học, từng chủ đề, từng đối tượng học sinh, có sự tích hợp với kiến thức- kĩ năng của các môn học có liên quan. Các năng lực cốt lõi được phát triển: Sáng tạo, biểu đạt bằng ngôn ngữ tạo hình, ngôn ngữ diễn đạt, giao tiếp, đánh giá. - Phương pháp dạy học: dựa trên sự trải nghiệm, sự khám phá hình thành năng lực chung và năng lực đặc thù một cách sáng tạo linh hoạt của học sinh trong các quy trình hoạt động mĩ thuật dưới sự hướng dẫn của giáo viên. - HS tham gia tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau trong quá trình hoạt động Mĩ thuật dựa trên năng lực theo hướng dẫn của giáo viên. Căn cứ vào các nội dung trên giáo viên cần nghiên cứu, xây dựng kế hoạch dạy học sao cho phù hợp, bởi mỗi chủ đề đều có từ 1-2 tiết hoặc từ 2 đến 5 tiết học nên giáo viên cần phải xây dựng 1 kế hoạch dạy học một cách chặt chẽ thì việc dạy học này mới đạt hiệu quả. + Ví dụ: Chủ đề chú bộ đội của chúng em có thể xây dựng gồm 2 tiết, giáo viên cần xây dựng như sau: Tiết 1: Nắm được phần tìm hiểu (quan sát, nhận xét), cách thực hiên, tạo ngân hàng hình ảnh (Có thể đạt trên 50% học sinh, không cần vẽ màu, tạo được hình dáng, trang phục là đạt) Tiết 2: Tiếp tục thực hành, hoàn thành sản phẩm, trưng bày, giới thiệu sản phẩm, nhận xét đánh giá kết quả học tập của học sinh.
  8. 10 Giáo viên cần nắm được cách tổ chức các quy trình dạy-học mĩ thuật nhằm phát triển trí tuệ thị giác-không gian và ngôn ngữ thẩm mỹ. Giáo dục mĩ thuật khuyến khích học sinh phát triển các năng lực: * Năng lực trải nghiệm (dạy học gắn liền với thực tiễn) - Học sinh có được những trải nghiệm để gợi mở cách nhìn nhận, cảm giác, sự tò mò, trí nhớ, trí tưởng tượng và phát triển sức sáng tạo và biểu đạt. - GV cần gợi mở để học sinh thông qua những vấn đề trải nghiệm để các em có sự tò mò, khám phá và sáng tạo. VD: Chủ đề Chú bộ đội của chúng em học sinh ngoài việc quan sát tranh ảnh trong sách các em còn có thể biết được hình ảnh các chú bộ đội qua hình ảnh chú bộ đội thật ngoài đời, trên truyền hình, trên các phương tiện thông tin đại chúng, vì vậy các em dễ dàng diễn đạt được vào nội dung bài vẽ của mình. - Nếu như trước đây không gian dạy học chỉ bó hẹp trong không gian lớp học thì nay chúng ta có thể cho học sinh ra khuôn viên hoặc sân trường, hay đi công viên để ngắm cảnh, trải nghiệm và thực hành vẽ bài. Học sinh sẽ rất hứng thú với không gian học mà chơi, chơi mà học, các em được bồi dưỡng năng lực thẩm mĩ từ thực tế cuộc sống. VD: Bài tạo hình với những chiếc lá, hay chủ đề “Trường em” có thể cho học sinh xuống khuôn viên hoặc khu vực sân bóng của trường để quan sát, sưu tầm lá cây, quan sát các bạn tham gia HĐ vui chơi, quanh cảnh trường học,..Từ đó gắn liền dạy học với thực tiễn giúp các em sáng tạo ra sản
  9. 11 phẩm mới có tính thẩm mĩ, đồng thời giúp các em phát triển năng lực quan sát, tưởng tượng, kí họa nhanh, giáo dục các em HS thêm yêu thiên nhiên, cỏ cây, hoa lá, biết bảo vệ môi trường, yêu trường lớp, thầy cô, bạn bè,..... Dạy học gắn với thực tiễn cuộc sống - Dịch Covid 19 bao trùm toàn cầu ảnh hưởng tới quá trình học của học sinh. Song bản thân giáo viên không vì thế mà ngừng dạy, học sinh không vì thế mà ngừng học. Để đảm bảo đủ thời lượng chương trình, tham gia đầy đủ các cuộc thi vẽ tranh, bản thân giáo viên chúng tôi đã tổ chức dạy học trực tuyến cho học sinh để đáp ứng nhu cầu cấp thiết tại thời điểm hiện nay. Dạy học với các sách giáo khoa điện tử, bài giảng power point, bài giảng elearning, giúp HS lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ nhất. Giáo dục thẩm mĩ một cách linh hoạt, bằng nhiều hình thức khác nhau, gắn liền với thực tiễn cuộc sống.
  10. 12 Học sinh học trực tuyến * Năng lực kỹ năng và kỹ thuật - Giáo dục mĩ thuật giúp cho học sinh phát triển ngôn ngữ không gian-thị giác, học sinh học các ngôn ngữ mĩ thuật khi các em thực hành và hiểu cách sử dụng đường nét, hình khối, kích cỡ, bố cục, màu sắc. Học sinh sẽ vận dụng năng lực này từ thực tiễn vào bài học và từ bài học vào thực tiễn Ví dụ: Khi dạy chủ đề Sự liên kết thú vị của các hình khối các em làm được các hình khối, sắp xếp các hình khối để tạo thành một sản phẩm mĩ thuật liên quan đến cuộc sống như: Ngôi nhà, phích nước, tủ lạnh, ti vi, * Năng lực biểu đạt - Giáo dục mĩ thuật giúp học sinh có khả năng khám phá ra năng lực của mình thông qua các phương tiện khác nhau cũng như trải nghiệm những niềm vui thích khi tạo ra những sản phẩm, những biểu đạt mang tính độc lập và đặc sắc của mình.
  11. 13 Học sinh vẽ biểu cảm tranh chân dung. * Năng lực phân tích và diễn giải - Giáo dục mĩ thuật mang lại cho học sinh “con mắt” tò mò để tìm hiểu và phân tích văn hoá thị giác cũng như quá trình sáng tạo. Qua đó các em phát triển tính sáng tạo và khám phá những ý tưởng mới khi tìm hiểu các bức tranh, các tác phẩm điêu khắc, bài thuyết trình hoặc các buổi triển lãm. Ví dụ: Khi dạy chủ đề về Tìm hiểu tranh theo chủ đề Chú bộ đội của chúng em, GV cần hướng dẫn để các em thể hiện được năng lực này như: Phân tích về hình ảnh, màu sắc, đường nét, bố cục, chất liệu của bức tranh, diễn giải và trình bày được nội dung sản phẩm, lí do chọn nội dung, quy trình thực hiện, những khó khăn gặp phải trong quá trình làm sản phẩm một cách trôi chảy thuyết phục,... Học sinh phân tích, diễn giải trong hoạt động chia sẻ.