Báo cáo Biện pháp Phát triển năng lực ngôn ngữ trong dạy học văn miêu tả cho học sinh Lớp 4

docx 23 trang Chăm Nguyễn 14/10/2025 360
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Biện pháp Phát triển năng lực ngôn ngữ trong dạy học văn miêu tả cho học sinh Lớp 4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_bien_phap_phat_trien_nang_luc_ngon_ngu_trong_day_hoc.docx
  • pdfBáo cáo Biện pháp Phát triển năng lực ngôn ngữ trong dạy học văn miêu tả cho học sinh Lớp 4.pdf

Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Phát triển năng lực ngôn ngữ trong dạy học văn miêu tả cho học sinh Lớp 4

  1. 3 phục được những khó khăn đó, làm sao để các em làm được bài văn đủ phần, đủ ý, diễn tả một cách sinh động, hấp dẫn Làm sao để các em có hứng thú trong khi làm bài văn. Chính vì những băn khoăn đấy mà tôi đã đi sâu tìm hiểu, học hỏi và nghiên cứu ra những yếu tố, biện pháp và khả năng của mình giúp học sinh viết được một bài văn hay, có hồn, mong các em trở thành những con người phát triển toàn diện, có ích cho đất nước. 2. Mục đích nghiên cứu Năm học này được nhà trường phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 4B. Với kinh nghiệm mà trong quá trình giảng dạy tôi đúc kết được, tôi quyết định chọn nghiên cứu biện pháp mang tên “Phát triển năng lực ngôn ngữ trong dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4”. Qua biện pháp này tôi muốn góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy văn miêu tả cho học sinh lớp 4. Hình thành các bước xây dựng một bài văn có đủ ba phần, Cách tìm ý, tìm từ phù hợp cho mỗi bài văn. Cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật để diễn đạt cho bài văn sinh động, hấp dẫn. Giúp các em tự tin hơn, biết cách diễn tả lại những sự vật, hiện tượng một cách tự nhiên và sâu sắc. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Tìm hiểu về tình hình học và làm bài Tập làm văn miêu tả của học sinh lớp 4 để nhận ra những khó khăn và hạn chế mà các em thường mắc phải. Nghiên cứu và đưa ra một số giải pháp thực hiện trong khi giảng dạy giúp các em hiểu đúng được thực chất vấn đề. Giúp học sinh ngoài việc vận dụng các hiểu biết và kĩ năng dùng từ đặt câu còn có các kỹ năng khác như: phân tích đề, tìm ý và lựa chọn ý, lập dàn ý, viết đoạn, liên kết đoạn. Đó chính là cách làm một bài văn hay để khắc phục những khó khăn của bản thân một cách hiệu quả nhất, ngoài ra còn giúp các em có hứng thú và vận dụng một cách linh hoạt cách làm bài cho riêng mình. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là: Học sinh lớp 4B trường Tiểu học.
  2. 4 Phạm vi nghiên cứu là: Dạng văn miêu tả phân môn tập làm văn Tiếng Việt lớp 4. 5. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện được mục tiêu của biện pháp đề ra tôi mạnh dạn nghiên cứu, tìn tòi áp dụng các phương pháp sau: - Phương pháp nghiên cứu lý luận (đọc tài liệu) - Phương pháp điều tra - Phương pháp phân tích tổng hợp - Phương pháp áp dụng thực nghiệm - Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm II. PHẦN NỘI DUNG 1.Cơ sở lý luận Trước hết ta cần phải hiểu: Miêu tả là nêu lên các đặc điểm của sự vật, hiện tượng bằng cách làm cho các sự vật, hiện tượng đó hiện lên trực tiếp (tái hiện) trước mắt người đọc (người nghe) một cách cụ thể, sống động, như thật khiến cho người ta có thể nhìn, nghe, ngửi, sờ nắm được. Đối với học sinh lớp 4, phân môn Tập làm văn quả là khó khăn đối với các em. Bởi lẽ, đây là môn học đòi hỏi sự sáng tạo. Nếu học tốt phân môn Tập làm văn học sinh sẽ có cơ sở tiếp thu và diễn đạt các môn học khác trong chương trình. Các em sẽ có suy nghĩ mạch lạc, diễn đạt trong sáng và khoa học, cảm thụ được cái hay, cái đẹp của cuộc sống, giúp các em phát triển năng lực trí tuệ, rèn luyện các thao tác tư duy. Tư duy có phát triển thì ngôn ngữ mới phát triển. Và ngược lại, ngôn ngữ càng phát triển thì càng tạo cho tư duy phát triển nhanh hơn. Do vậy ngôn ngữ càng hoàn hảo, càng giúp cho việc diễn đạt tư tưởng tình cảm thêm chính xác, giúp khả năng nhận xét thêm sâu sắc, có khả năng trình bày được rõ ràng, chính xác những ý nghĩ và tình cảm của mình. Để các em được hướng dẫn thực hành thường xuyên người giáo viên cần phát huy tính độc lập, suy nghĩ và trí sáng tạo của các em qua từng khâu: từ việc ra đề, hướng dẫn tìm hiểu đề, hướng dẫn làm bài để các em biết
  3. 5 phải làm gì, viết gì giúp các em tự tin, có cảm hứng sáng tạo khi làm các bài văn miêu tả. Từ đó góp phần bồi dưỡng vun đắp tình yêu tiếng Việt, biết giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, tâm hồn Việt, góp phần hình thành nhân cách của con người Việt Nam. 2.Cơ sở thực tiễn Từ năm học 2021-2022 tôi được phân công dạy lớp 4, tôi nhận thấy học sinh lớp 4 đã được học văn miêu tả về đồ vật, cây cối, con vật nhưng kĩ năng làm văn của các em chưa tốt. - Học sinh làm bài hời hợt, chung chung; chưa miêu tả để phân biệt đối tượng được miêu tả này với đối tượng khác. - Vốn từ của các em còn nghèo nàn nên dẫn đến diễn đạt lủng củng, dùng từ trùng lặp, sai nghĩa, sai lỗi chính tả trong bài Tập làm văn. - Nhiều em không nắm được cấu trúc ngữ pháp nên sử dụng dấu câu tùy tiện. Nhiều em chưa phân biệt từ ngữ sử dụng trong văn nói và văn viết. - Một số học sinh làm theo văn mẫu hoặc chỉ viết theo dàn bài mà giáo viên đã hướng dẫn lập. Chưa biết tích hợp các phân môn khác như: Tập đọc, Luyện từ và câu, chính tả, vào Tập làm văn. Chưa sáng tạo trong khi dùng từ đặt câu. - Phần lớn các em mới chỉ biết miêu tả các câu văn ở mức độ đơn giản, chưa biết quan sát tinh tế, chưa biết dùng hình ảnh so sánh, nhân hoá để miêu tả nên các câu văn còn lủng củng mang tính kể nhiều hơn. - Đa số học sinh tỏ ra lúng túng khi làm bài, do vốn từ ngữ của các em còn nhiều hạn chế, chưa biết cách mở rộng câu đúng thành câu hay. - Các em chưa nắm chắc cách trình bày bài văn. - Chưa biết cách sử dụng câu mở đoạn nêu ý bao trùm của đoạn, câu kết đoạn, chuyển ý giữa các đoạn, làm cho các đoạn văn trong một bài văn rời rạc, chưa logic. - Trong khi viết, các em chưa biết cách bộc lộ cảm xúc của mình.
  4. 6 - Một số em có sử dụng biện pháp so sánh nhưng còn cứng nhắc, chưa phù hợp. Thực trạng trên tồn tại trong thực tế dạy học là do những nguyên nhân sau: 2.1. Về phía học sinh - Học sinh chưa thực sự thấy yêu thích môn học. - Khi làm văn, học sinh chưa xác định được yêu cầu trọng tâm của đề bài. - Khi quan sát thì các em không được hướng dẫn về kỹ năng quan sát: quan sát những gì, quan sát từ đâu? Làm thế nào phát hiện được nét tiêu biểu của đối tượng cần miêu tả. - Không biết tưởng tượng bằng hình ảnh, âm thanh, cảm giác về sự vật miêu tả khi quan sát. - Vốn từ đã nghèo nàn lại không biết sắp xếp như thế nào để bài viết mạch lạc, chưa diễn đạt được bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình về một sự vật, cảnh vật, về một con người cụ thể nào đó. - Phân môn Tập làm văn là một môn học mang tính tổng hợp và sáng tạo, nhưng lâu nay người giáo viên chưa có cách phát huy tối đa năng lực học tập và cảm thụ văn học của học sinh; chưa bồi dưỡng được cho các em lòng yêu quý tiếng Việt, ham thích học tiếng Việt để từ đó các em nhận ra rằng đã là người Việt Nam thì phải đọc thông viết thạo Tiếng Việt và phát huy hết ưu điểm của tiếng mẹ đẻ. 2.2. Về phía giáo viên - Giáo viên chưa phân loại từng đối tượng học sinh để đề ra kế hoạch dạy học phù hợp. - Giáo viên chưa khơi gợi sự ham thích học phân môn Tập làm văn, chưa phát huy tối đa năng lực học tập và cảm thụ văn học của học sinh, chưa bồi dưỡng cho các em lòng yêu quý Tiếng Việt.
  5. 7 Đặc biệt sau mỗi bài văn, giáo viên chưa hướng dẫn học sinh nhận thấy được hình ảnh hay, câu văn hay cần học và những chỗ sai cần khắc phục. 3. Các biện pháp Để gây hứng thú cho các em khi học môn này đầu tiên tôi chuẩn bị kỹ cho học sinh làm quen với từng dạng bài. Bước đầu phải nắm vững bố cục bài văn. Với từng dạng bài, tôi nghiên cứu và đưa ra quy trình giúp các em nắm vững được kiến thức cơ bản, thể nghiệm qua một số ví dụ cụ thể ở các dạng khác nhau và cuối cùng là các em thực hành làm bài văn ở mỗi dạng. Đối với mỗi dạng bài văn miêu tả tôi giúp học sinh nhận thấy: Nội dung đủ và phong phú là yêu cầu không thể thiếu được của một bài văn. Thực hiện được yêu cầu này ngoài việc phải giúp học sinh nhận ra được cấu tạo của một kiểu bài dựa vào cách tìm hiểu qua một bài văn mẫu, giáo viên cần hướng dẫn chung cách làm bài văn dựa theo biện pháp sau: Biện pháp 1: Tìm hiểu khả năng viết văn miêu tả của từng học sinh. Biện pháp 2: Xác định cụ thể đối tượng cần miêu tả. Biện pháp 3: Quan sat đối tượng thực tế cần tả theo một trình tự nhất định và ghi lại những đặc điểm ấy. Biện pháp 4: Lập dàn ý chi tiết cho bài văn có đủ 3 phần: Mở bài- Thân bài- Kết bài. Biện pháp 5: Kiểm tra, soát lại dàn ý. Biện pháp 6: Thực hiện việc chấm, trả bài. 3.1. Cụ thể các biện pháp thực hiện 3.1.1. Biện pháp 1: Tìm hiểu khả năng viết văn miêu tả của từng học sinh. Đầu năm học 2021-2022, khi được nhà trường phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 4B với tổng số học sinh là 36 em trong đó có 13 em nữ và 23 em nam. Trong quá trình giảng dạy môn Tập làm văn, tôi nhận thấy nhìn chung các em đã nắm được cấu trúc của một bài văn miêu tả (mở bài, thân bài, kết bài) nhưng bài làm của các em còn rập khuôn, kém hấp dẫn, ít cảm
  6. 8 xúc và nghèo hình ảnh. Đặc biệt là các em chưa biết sử dụng các biện pháp tu từ, các biện pháp nghệ thuật nhân hóa, so sánh. thiếu ý, thiếu chi tiết ; chưa biết cách dùng các từ ngữ gợi tả, gợi cảm; vốn từ lại nghèo nàn. Mặt khác cách dùng từ đặt câu của các em còn chưa đúng, chưa rõ nghĩa và chưa mạch lạc. Bởi vậy bài văn của các em thường cộc lốc, lủng củng, khô khan, nghèo cảm xúc. Có những bài văn trở thành một bảng liệt kê các chi tiết của đối tượng miêu tả. Trước tình trạng đó, tôi luôn băn khoăn làm thế nào để giúp các em làm bài văn đảm bảo theo yêu cầu và giàu cảm xúc. Khi đã nắm bắt được khả năng của từng em tôi mạnh dạn áp dụng biện pháp tiếp theo, nhằm giúp các em tiến bộ hơn, nâng cao khả năng viết văn của mình. 3.1.2 Biện pháp 2: Xác định cụ thể đối tượng cụ thể cần miêu tả Đối với bài văn miêu tả đồ vật Nên chọn các đồ vật là đồ chơi, đồ dùng học tập, đồ vật trong nhà hay quà tặng như: bút (bút chì, bút máy) hộp bút, cặp, búp bê, ô tô đồ chơi, đồng hồ Thường các đồ vật này các em đều có và sử dụng nó nên việc các em miêu tả về nó sẽ dễ dàng hơn. Đối với bài văn miêu tả cây cối Nên chọn các loại cây ăn quả, cây hoa trong vườn nhà hay cây bóng mát ở sân trường như: Cây xoài, mít, sầu riêng ; cây hoa hồng, hoa huệ, hoa cúc ; cây bàng, cây phượng Đây là những loại cây thân thuộc đối với các em, các em nhìn thấy hằng ngày khi tới trường và khi về nhà và việc miêu tả lại các loại cây này đối với các em không còn là khó khăn lớn nữa. Đối với bài văn miêu tả con vật Nên chọn các con vật nuôi trong nhà như: chó, mèo, gà, lợn. Bởi các con vật nuôi trong nhà sẽ rất thân quen và dễ hình dung đối với các em. 3.1.3. Biện pháp 3: Quan sát đối tượng thực tế cần tả theo một trình tự nhất định và ghi lại những đặc điểm. Khi xác định đối tượng cần tả, tôi tiến hành cho học sinh quan sát thực tế. Trước khi quan sát, tôi đặt ra các câu hỏi để định hướng việc quan sát của
  7. 9 học sinh. Khi học sinh tiến hành quan sát, tôi yêu cầu các em mang theo cuốn sổ tay để ghi lại những gì các em quan sát dựa theo câu hỏi gợi ý. Khi trở về lớp, tôi cho học sinh thảo luận nhóm, trình bày trước lớp những gì mình quan sát được. Các nhóm bổ sung ý kiến cho nhau, tôi sẽ góp ý và sửa lỗi cho các em. Rồi dựa trên các ý đó, tôi yêu cầu học sinh viết thành câu, liên kết ý tạo thành đoạn. Đối với bài văn miêu tả đồ vật Có thể quan sát đồ vật từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong hay từ trong ra ngoài Để giúp học sinh biết cách quan sát, giáo viên cần có đồ vật cụ thể hoặc đồ vật trong tranh để hướng dẫn. Ví dụ: Với đề bài “Tả cái cặp sách” tôi cho học sinh quan sát luôn chiếc cặp sách của các em và có thể dùng hệ thống các câu hỏi và sắp xếp các chi tiết theo trình tự sau: Em hãy kể các bộ phận của cặp? Cặp làm bằng gì? Màu sắc ra sao? Mặt trước, mặt sau của cặp? Quai cặp thế nào? Cặp có mấy ngăn bên trong? Em giữ gìn và sử dụng cặp ra sao? Học sinh quan sát chiếc cặp sách thực tế
  8. 10 Như vậy để quan sát cái cặp, tôi hướng dẫn học sinh cần sử dụng các giác quan như: thị giác (màu sắc, các bộ phận của cặp.), thính giác (mở khóa cặp nghe “tách”), xúc giác (sờ vào cặp thấy mịn, mềm ), khứu giác (mở cặp ra thấy thơm mùi vải mới hoặc nhựa mới ) Đối với bài văn miêu tả cây cối Có hai cách quan sát Quan sát đặc điểm về hình dáng của cây, các bộ phận của cây hoặc quan sát theo từng thời kì phát triển của cây. Ví dụ: Với đề bài “Tả loài cây mà em yêu thích” có thể dùng hệ thống câu hỏi và sắp xếp các chi tiết theo trình tự sau: Đầu tiên tôi đưa câu hỏi gợi ý và yêu cầu học sinh ghi câu hỏi gợi ý vào sổ tay. Tôi chia lớp thành các nhóm nhỏ và giao nhiệm vụ cho các nhóm. Tôi dắt các em xuống sân trường, cho cho các em quan sát các cây xung quanh. Khi các em quan sát, tôi sẽ nêu lại các câu hỏi, khuyến khích các em nói và ghi lại ý vào sổ tay. Tôi sẽ cho các em quan sát từng loại cây một và hướng dẫn để các em thấy được nét nổi bật riêng của từng loại cây.
  9. 11 Học sinh quan sát cây thực tế tại sân trường, trên lớp Em hãy nêu các bộ phận của cây? - Thân cây thế nào? - Gốc cây ra sao? - Nêu đặc điểm của cành cây? Của tán lá? hình dáng của lá? - Cây có hoa không? Hãy nêu hình dáng màu sắc của hoa?
  10. 12 - Hãy nêu ích lợi của cây? - Những hoạt động có liên quan đến cây? Đối với quan sát cây học sinh cũng cần sử dụng các giác quan như: thị giác (quan sát dáng cây, thân cây, cành cây, tán lá ), thính giác (nghe tiếng gió thổi, lá rơi, chim hót ), xúc giác (sờ vào thân cây thấy nhám ), nếu cây có hoa, quả cần sử dụng khứu giác (ngửi mùi hương của hoa, quả ), vị giác (nếm vị ngọt hay chua của quả ) Đối với bài văn miêu tả con vật Ngoài việc miêu tả hình dáng của con vật học sinh cần phải quan sát hoạt động, thói quen của con vật định tả. Tôi đưa các hình ảnh về các con vật cho học sinh quan sát. Ví dụ: Với đề bài “Tả về một chú chó mà em biết” có thể dùng hệ thống câu hỏi và sắp xếp các chi tiết theo trình tự sau: Tả hình dáng - Chú chó đó có tên là gì? Chú chó ấy thuộc giống chó gì? (chó Nhật, béc-giê) - Chú chó ấy có những bộ phận nào? (đầu, mình, chân, đuôi,) - Đầu chú chó có những bộ phận nhỏ nào? (tai, mắt, mõm,) các bộ phận ấy có màu sắc và hình dáng ra sao? - Hình dáng chú như thế nào? Lông có màu gì? - Đuôi chú như thế nào? (hơi cong và có nhiều lông dài) - Chân thì có đặc điểm gì? (bốn chân khúc khuỷu và gân guốc) Tả hoạt động, thói quen của con chó Chú chó thường có những hoạt động nào? (Canh giữ nhà sủa, đuổi bắt các con vật nuôi khác trong nhà ) - Nuôi chó có tác dụng gì? Như vậy để quan sát miêu tả con chó, học sinh cần sử dụng các giác quan như: thị giác (Quan sát các bộ phận của chó, thói quen ), thính giác (nghe tiếng chó sủa)
  11. 13 Học sinh quan sát tranh con vật 3.1.4. Biện pháp 4: Lập dàn ý chi tiết cho bài văn có đủ 3 phần: Mở bài- Thân bài- Kết bài: Dàn bài chung Yêu cầu tối thiểu của một bài văn là phải có đầy đủ bố cục tức 3 phần: Mở bài- Thân bài- Kết bài. Với mỗi dạng bài văn miêu tả cần tuân theo những điểm chính trong dàn bài chung như sau: Đối với bài văn miêu tả đồ vật Mở bài: - Giới thiệu đồ vật định tả (Đó là đồ vật gì? Có từ bao giờ? Do đâu mà có?) Thân bài - Tả đặc điểm hình dáng bên ngoài của đồ vật. (nó được làm bằng chất liệu gì? Màu sắc ra sao?) - Tả chi tiết từng bộ phận của đồ vật (Có thể tả lần lượt từ ngoài vào trong hoặc từ trên xuống dưới ) - Tả hoạt động của đồ vật hay thói quen của em đối với đồ vật đó.