Báo cáo Biện pháp Nâng cao năng lực giao tiếp hợp tác cho học sinh Lớp 4 ở Trường Tiểu học
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Biện pháp Nâng cao năng lực giao tiếp hợp tác cho học sinh Lớp 4 ở Trường Tiểu học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_bien_phap_nang_cao_nang_luc_giao_tiep_hop_tac_cho_ho.docx
Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Nâng cao năng lực giao tiếp hợp tác cho học sinh Lớp 4 ở Trường Tiểu học
- 3 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài. Đối với học sinh lớp 4 các em không còn quá bỡ ngỡ, rụt rè như các em học sinh lớp dưới. Tuy nhiên khi các em lớn hơn đồng nghĩa với sự ngại ngùng, bớt đi sự vô tư hồn nhiên của những năm học trước, không còn ríu rít quanh quẩn bên cô giáo để hỏi đủ thứ chuyện trong cuộc sống. Các em có nhiều suy nghĩ hơn, tuy nhiên đôi khi muốn chia sẻ những suy nghĩ ấy ra thành lời lại thật khó khăn. Khó khăn khi không thực sự mạnh dạn tự tin, khó khăn trong cách diễn đạt ý. Thế nhưng trong quá trình sinh hoạt, học tập của học sinh không thể không cần đến sự giao tiếp và hợp tác. Vậy giao tiếp hợp tác như thế nào cho có hiệu quả, để đạt kết quả tốt trong học tập thì các em cần phải có kỹ năng và thói quen trong giao tiếp và hợp tác. Trong lớp tôi nhiều em trong học tập hay khi tham gia các hoạt động của trường, lớp lại không có kĩ năng giao tiếp, hợp tác, không biết diễn đạt ý hiểu của mình, không biết sử dụng từ ngữ cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp. Có em lại không có kỹ năng lắng nghe người khác nói và không có thói quen giao tiếp. Việc giao tiếp không tốt dẫn đến học sinh gặp khó khó khăn trong vấn đề hợp tác nhóm. Trong hợp tác nhóm có một số học sinh không lắng nghe, không tôn trọng ý kiến của các thành viên trong nhóm, chưa có ý thức khi làm việc nhóm. Một số học sinh thể hiện cái tôi quá lớn, chưa biết tương tác trong nhóm. Cũng có học sinh hiếu thắng, quan trọng hơn thua và thường nóng vội trong quá trình thảo luận nhóm. Đó là những nguyên nhân dẫn đến hợp tác nhóm không hiệu quả. Từ thực tế trên tôi đã suy nghĩ làm sao để học sinh của mình có kỹ năng giao tiếp hợp tác tôt để học tập có hiệu quả. Chính vì vậy tôi đã nghiên cứu, lựa chọn sáng kiến “Biện pháp nâng cao năng lực giao tiếp hợp tác cho học sinh lớp 4 ở trường tiểu học.” để giúp các em học sinh tích cực và tiến bộ hơn trong học tập. 2. Mục đích nghiên cứu Rèn kỹ năng giao tiếp hợp tác cho học sinh, giúp học sinh tích cực chủ động hơn trong giao tiếp. Đảm bảo mục tiêu giáo dục của trường, lớp đề ra.
- 4 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lí luận, thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp hợp tác cho học sinh. - Tìm ra các biện pháp phù hợp tối ưu nhất để học sinh lớp luôn mạnh dạt, tự tin trong giao tiếp, hợp tác và tích cực tham gia các hoạt động của trường lớp. - Lập thông tin, thống kê số liệu. - Nghiên cứu về nội dung, cách thức tổ chức thực hiện. - Thử nghiệm, rút kinh nghiệm, so sánh để thấy được hiệu quả của đề tài. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Các biện pháp giúp học sinh lớp 4 tích cực, chủ động trong giao tiếp hợp, tác và tham gia các hoạt động của trường lớp. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp quan sát. - Phương pháp trò chuyện. - Phương pháp hỏi đáp, phỏng vấn điều tra. - Phương pháp kể chuyện. - Phương pháp tư vấn, động viên khích lệ. - Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp. - Phương pháp thực hành vận dụng, kiểm tra đánh giá. II. NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận Theo "Thông tư Số: 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ GD&ĐT về việc ban hành Chương trình Giáo dục phổ thông" trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới của Việt Nam, mỗi học sinh cần cần đạt được yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực. Trong đó giao tiếp và hợp tác là một trong các năng lực chung cần trang bị cho học sinh.Năng lực này được hình thành và bồi dưỡng thông qua nhiều hoạt động học dưới nhiều hình thức khác nhau.
- 5 Giao tiếp đặc biệt quan trọng trong các mối quan hệ xã hội và cũng đặc biệt quan trọng với việc hợp tác trọng học tập. Không những vậy, kỹ năng giao tiếp còn giúp các em ứng xử với những người xung quanh một cách tôn trọng, chân thành tế nhị, thông minh; biết cách tự giải quyết khó khăn trong cuộc sống của mình. Từ đó hình thành nhân cách cho bản thân các em. 2. Cơ sở thực tiễn Giáo dục hiện nay chú trọng đến phát triển các năng lực, phẩm chất cho học sinh trong đó việc hình thành năng lực giao tiếp hợp tác được ban giám hiệu nhà trường nơi tôi công tác rất quan tâm. Thực tế trong dạy học và tiếp xúc với học sinh tôi thấy một số kĩ năng quan trọng của kĩ năng giao tiếp như: kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng xử lý tình huống, kĩ năng thuyết phục, kĩ năng nói lời yêu cầu đề nghị, kĩ năng thuyết trình trước đám đông, kĩ năng làm việc nhóm, đặc biệt là kĩ năng biểu lộ thái độ bằng các hành vi ngôn ngữ chưa được giáo viên quan tâm giáo dục thường xuyên. Tính tự chủ của học sinh chưa cao, phần lớn học sinh thiếu tự tin, nhút nhát, rụt rè trước những vấn đề mới hay phải đợi giáo viên gợi ý, chỉ định các em mới dám trả lời. Trường Tiểu học nơi tôi công tác nằm ở trung tâm thị trấn, hoàn cảnh gia đình học sinh khác nhau có nhiều gia đình có điều kiện, là nơi thị trấn nên các em thường xuyên được tiếp xúc giao tiếp với nhiều người và khá mạnh dạn so với những học sinh của các trường khác nhưng kĩ năng giao tiếp đôi khi chưa đúng mực như: kĩ năng chào hỏi, học sinh nói tục chửi bậy , giao tiếp với bạn bằng ngôn từ chưa hay bên cạnh đó còn nhiều học còn ngại giao tiếp...Thực tế cho thấy có một số học sinh không có kỹ năng chào hỏi khi gặp thầy cô và người lớn tuổi. Có một số em không biết diễn đạt suy nghĩ của mình khi được trao đổi thảo luận như trong tiết chào cờ đầu tuần. Trong lớp tôi chỉ có một số học sinh tích cực giao tiếp hợp tác trong học tập, còn lại nhiều học sinh nhút nhát chưa tự tin, chưa mạnh dạn chia sẻ với bạn. Bản thân tôi là giáo viên mới vào nghề chưa có kinh nghiệm nên còn lúng túng khi áp dụng các phương pháp phát huy năng lực giao tiếp, hợp tác cho học sinh.
- 6 Một số học sinh có bố mẹ là công nhân mặc dù rất yêu thương và quan tâm con nhưng họ không có thời gian bên cạnh để trò chuyện và tìm hiểu tâm, sinh lí của con em mình. 3. Các biện pháp 3.1. Rèn tính tích cực chủ động, mạnh dạn tự tin cho học sinh. Mạnh dạn tự tin và sự chủ động, chính là sự cần thiết tối ưu để học sinh có thể phát triển được năng lực hợp tác để tham gia vào các hoạt động được hiệu quả nhất. Để giao tiếp và hợp tác tốt thì các em cần phải tích cục chủ động và mạnh dạn tự tin: mạnh dạn phát biểu ý kiến xây dựng bài, chủ động nêu ý kiến riêng của mình khi hợp tác nhóm, tự tin chia sẻ với bạn, tự tin khi đặt câu hỏi cho bạn và trả lời câu hỏi của bạn đối với mình. * Khó khăn: học sinh lớp tôi có nhiều em nhút nhát, rụt rè, có những em ngại giao tiếp với thầy cô và bạn. Có em khi cô đặt câu hỏi nhưng không giám giơ tay trả lời, có em không muốn nêu ý kiến cá nhân của mình. Ví dụ như em Hướng Ngọc Anh, em Nhật Minh, em Ngọc Diệp, em Thùy Chi, em Du. * Nguyên nhân: - Do bản thân các em mặc cảm tự ti, sợ ý kiến của mình chưa đúng bị thầy cô phản bác, bị các bạn chê bai. Dần dần làm mất đi sự mạnh dạn, tự tin mà đáng lẽ các em đã có. - Có một số em không muốn hoặc không có nhu cầu trao đổi, giao tiếp hợp tác rồi các em thu mình khép kín không còn mạnh dạn tự tin nữa. - Trong tâm lý của các em không thoải mái khi giao tiếp với chính các thầy cô, giữa các em và thầy cô như có một khoảng cách vô hình mà dần dần các em mất sự tự tin không giám trao đổi với thầy cô để nêu ý kiến riêng của mình. - Một số em thiếu sự quan tâm từ gia đình có thể bố mẹ người lớn luôn áp đặt suy nghĩ đối với các em làm cho các e thụ động không giám nói ra suy nghĩ của bản thân, như vậy người lớn cúng vô tình dập tắt sự mạnh dạn tự tin đang hình thành ở các em. *Biện pháp: Trong quá trình dạy học và tiếp xúc với học sinh của mình tôi luôn quan sát chú ý đến từng đối tượng học sinh để biết được em nào mạnh dạn tự tin, em nào rụt rè nhút nhát. Sau đó tôi sẽ tìm cơ hội để chủ động nói chuyện thăm dò nguyên nhân. Ví dụ như em Nhật Minh nắm được kiến thức trong học tập nhưng ít giơ tay phát biểu. Tôi đã động viên khích lệ em giải thích để em hiểu việc phát biểu ý kiến giúp em nhớ kiến thức ngay trong tiết học, góp phần xây dựng bài học hiệu quả. Em đã tiếp thu hơn, tích cực, chủ động hơn và thường xuyên giơ tay phát biểu ý kiến xây dựng bài. Hay như em Du luôn cảm thấy tự ti vì nghĩ mình học kém hơn các bạn nên sợ bạn chê cười. Lúc này tôi cần là cầu nối để em phá vỡ vỏ bọc và nói với em rằng
- 7 bản thân em nghĩ thế thôi, cô và các bạn trong lớp luôn lắng nghe và tôn trọng ý kiến của em dần dần em đã tự tin hơn mạnh dạn hơn, em đã biết nhờ sự trợ giúp của cô và các bạn trong lớp khi gặp khó khăn. Hoặc như em Ngọc Hân hay mất bình tĩnh khi phát biểu ý kiến và bản thân em tự cảm thấy ngại ngùng vì điều đó. Khi đó tôi đã trấn an học sinh rằng không sao hết, em hãy bình tĩnh, hít một hơi thật sâu và trả lời tiếp, bên cạnh đó tôi cũng yêu cầu cả lớp vỗ tay khích lệ bạn. Tôi đã thấy sự tự tin trong lời nói của em, em không còn run hay hồi hộp lo lắng khi đứng trước lớp phát biểu ý kiến cá nhân nữa. Tôi đã tuyên dương khích lệ học sinh, nhắc nhở cả lớp khen ngợi bạn khi bạn có ý kiến đúng. Nếu các em trả lời chưa đúng tôi không cáu gắt hay chê bai học sinh trước lớp mà nhẹ nhàng giải thích để em học sinh đó hiểu vấn đề để lần sau em học sinh đó vẫn tự tin nói ra ý kiến của mình. Tôi cũng có sự động viên kịp thời, đúng lúc và hợp lí, rèn luyện cho các em thói quen khi có ý kiến cần có nhu cầu bày tỏ ý kiến để các em tích cực hơn trong học tập và giao tiếp. Tôi đã thật sự gần gũi với chính học sinh của mình để xóa đi khoảng cách giữa cô và trò, ngoài việc giảng dạy kiến thức trên lớp cô giáo có thể chia sẻ những điều trong cuộc sống của bản thân cô, sẵn sàng trả lời những thắc mắc của các học sinh với mình. Bên cạnh đó tôi luôn giữ tâm thế là người “luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu” lắng nghe và hiểu tâm tư nguyện vọng của các em để các em có thể thoải mái khi chia sẻ với cô. Từ đó các em tự tin hơn, mạnh dạn hơn khi trao đổi vơi cô kể cả kiến thức trên lớp hay những lĩnh vực khác ngoài cuộc sống. Ngoài ra việc phối hợp với phụ huynh học sinh cũng rất quan trọng. Tôi thường xuyên trao đổi với cha mẹ học sinh về vấn đề của con họ, cùng tìm ra nguyên nhân và đưa ra cách giải quyết để phụ huynh hiểu ngoài học tốt kiến thức thì con em họ cần có năng lực để phát triển toàn diện. Học sinh mạnh dạn chia sẻ bài học, giơ tay phát biểu ý kiến xây dựng bài.
- 8 Kết quả: trước khi áp dụng biện pháp trong lớp tôi còn có nhiều em nhút nhát chưa thực sự mạnh dạn tự tin, sau một thời gian áp dụng biện pháp các em học sinh dần dần tự tin hơn rất nhiều các em sãn sàng nêu ra ý kiến cá nhân trươc tập thể lớp cũng như trong nhóm hợp tác như em Phương Thanh, em Minh Nguyên, em Đức Dương, em Hùng..... 3.2. Rèn kỹ năng làm việc theo nhóm. Làm việc theo nhóm là khi giáo viên giao một bài tập trong đó các nhóm học sinh sẽ thực hiện vai trò và đưa ra ý kiến cá nhân để góp phần hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm. Khi làm việc nhóm các em sẽ được giao tiếp hợp tác cùng nhau giải quyết vấn đề. Hiện nay việc giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh thì cho học sinh làm việc nhóm là phương pháp dạy học được các thầy cô sử dụng ở hầu hết các môn học. Thầy cô sẽ là người hướng dẫn để các em tự trao đổi thảo luận đưa ra kết quả của nhiệm vụ. Như vậy làm việc theo nhóm cũng sẽ phát huy được năng lực giao tiếp hợp tác của học sinh. Hoạt động nhóm dùng khả năng của thành viên tạo nên sức mạnh tập thể, đem lại kết quả tốt mà một cá nhân không làm được hoặc làm được nhưng tính hiệu quả không cao. Qua hoạt động nhóm, học biết giao tiếp và hợp tác với nhau trên nhiều phương diện như: học sinh nêu được quan điểm của mình, nghe được quan điểm của bạn; hoạt động nhóm cho phép một cá nhân nhỏ lẻ vượt qua chính mình để đạt kết quả cao và kéo các thành viên khác cùng tham gia hoạt động nhóm; học nhìn nhận và xem xét giải quyết vấn đề sâu rộng và toàn diện hơn, từ đó kiến thức của các em sẽ bớt phần chủ quan và trở nên sâu sắc hơn; học sinh sẽ hào hứng hơn khi có sự đóng góp của mình vào thành quả chung; vốn hiểu biết, học sinh thêm phong phú; kĩ năng giao tiếp, hợp tác, tính khách quan khoa học, tư duy phê phán của học sinh được rèn luyện và phát triển. Khó khăn: Trong khi làm việc nhóm có nhiều học sinh không hoạt động cùng các bạn, không đưa ra ý kiến trao đổi. Thậm chí có một số học sinh ỷ lại chờ kết quả làm việc của các bạn trong nhóm. Như vậy có một số học sinh chưa thực sự hợp tác. Khi giáo viên chia nhóm hợp tác, chính các bạn trong nhóm không hợp tác với nhau nên các bạn không muốn giao tiếp, chia sẻ với nhau. Tuy chụm đầu như một nhóm nhưng cuối cùng lại không đưa được ý kiến chung để hoàn thành mục tiêu. Như vậy việc hợp tác là không có hiệu quả. Nếu cho học sinh kết hợp nhóm ngẫu nhiên thì hầu hết các bạn sẽ chọn những bạn hay chơi cùng để hợp tác. Như vậy không có sự đồng đều vì có nhóm toàn học sinh học chưa tốt, có nhóm lại toàn học sinh học tốt. Chính vì vậy năng lực hợp tác của học sinh trong lớp cũng không đồng đều.
- 9 *Biện pháp: Trước khi hợp tác nhóm giáo viên có thể cho học sinh làm việc cá nhân sau đó các cá nhân hợp lại thành nhóm. Khi mỗi bạn đều có câu trả lời của riêng mình yêu cầu cá nhân phải nêu ý kiến trước cả nhóm để cùng thảo luận hoàn thành nhiệm vụ. Như vậy mỗi học sinh đều ý thức được trách nhiệm của mình và khi đó chắc chắn các em cũng muốn chia sẻ ý kiến của bản thân. Từ đó năng lực giao tiếp hợp tác được hình thành như một thói quen. Sau khi chia nhóm để học sinh thảo luận giáo viên yêu cầu các nhóm cử ra bạn nhóm trưởng, nhóm trưởng sẽ giao cho các thành viên trong nhóm mỗi bạn thực hiện một nhiệm vụ khác nhau. Ví dụ bạn A nêu lại câu hỏi bạn B tìm câu trả lời và bạn C ghi lại đáp án. Tất cả các thành viên trong nhóm cùng trao đổi thảo luận như vậy việc hợp tác sẽ có hiệu quả hơn. Khuyến khích học sinh khi kết hợp nhóm ngẫu nhiên các con cần lưu ý kết hợp giữa bạn học tốt và bạn học chưa tốt. Như vậy các bạn sẽ giúp đỡ được cho nhau và việc hợp tác có hiệu quả hơn. Không những thế các con sẽ dần hiểu nhau hơn từ việc không thích chơi với bạn này bạn kia dần dần các con lại thích chơi với nhau và tạo sự đoàn kết trong tập thể lớp. Từ việc hợp tác nhóm có sự hướng dẫn của thầy cô, tôi cũng hướng tới năng lực cộng tác trong nhóm cho học sinh, những lần đầu tôi sẽ hướng dẫn học sinh về thời điểm khi cộng tác, và cần chủ động hơn. Yêu cầu các em tự rèn thói quen khi gặp khó khăn cần cộng tác với bạn khác hoặc nhóm khác để tháo gỡ khó khăn vướng mắc. Khi cộng tác các em sẽ có cơ hội phát triển kỹ năng tư duy phản biện để các em diễn đạt ý tưởng, so sánh suy nghĩ của mình với người khác, nghiên cứu chủ đề với nhau. Ở hoạt động cộng tác các em sẽ giao tiếp và hợp tác tự chủ tốt hơn. Học sinh hớp tác thảo luận nhóm.
- 10 Kết quả: trước khi áp dụng biện pháp thì việc hợp tác nhóm của các em học sinh trong lớp tôi khá mờ nhạt, có ít nhóm làm việc có hiệu quả. Nhưng sau khi được tôi hướng dẫn cùng với sự đoàn kết tích cực của học sinh thì việc làm việc theo nhóm trong các tiết học đạt hiệu quả cao. Các em tích cực hứng thú hơn khi được hợp tác nhóm. Các em đã tự tin hơn trong giao tiếp khi thảo luận nhóm và cũng vui vẻ đoàn kết hơn. Từ đó việc học tập đạt kết quả cao. 3.3. Rèn kỹ năng học tập theo hướng giao tiếp đối thoại. Trong dạy học theo phương pháp nào đi chăng nữa thì việc sử dụng kĩ thuật dạy học là hết sức cần thiết. Nó là một yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành công trong tiết học. Đôi khi chúng ta sẽ có sự nhầm lẫn giữa kĩ thuật dạy học và phương pháp dạy học. Để tránh sự nhầm lẫn đó tôi nghĩ mình cần nắm rõ và hiểu kĩ thuật dạy học nó là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các Kĩ thuật dạy học chưa phải là các phương pháp dạy học độc lập mà là những thành phần của phương pháp dạy học. Khi dạy học theo định hướng lấy học sinh làm trung tâm thì việc sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực là việc làm thường xuyên và liên tục. Từ các kĩ thuật dạy học mà giáo viên sử dụng nó sẽ góp phần hình thành năng lực và phẩm chất của học sinh qua bài học. Đó cũng là yêu cầu của Thông tư 22 đặt ra. Học xong một bài học thì ngoài việc đạt được chuẩn về kiến thức, kĩ năng thì học sinh còn phải đạt được mục tiêu về năng lực, phẩm chất. Để hình thành và phát triển năng lực cho học sinh, tôi rất chú trọng sử dụng kĩ thuật tổ chức cho học sinh phát biểu, phản biện (giao tiếp – đối thoại) trong bài học. Bởi vì ngôn ngữ gắn liền với tư duy, chỉ khi học sinh có sự hiểu biết về nội dung bài học thì các em mới có kiến thức để phản biện hay hỏi những thắc mắc của mình với bạn với cô. Để định hướng cho học sinh tham gia sâu vào các cuộc hội thoại trong tiết học, ban đầu học sinh rất khó đặt câu hỏi để bắt đầu cuộc hội thoại khi học sinh chưa thành thói quen. Vì vậy tôi đã chủ động đặt câu hỏi cho học sinh trả lời trước sau đó cho học sinh đặt lại câu hỏi đó với bạn của mình một vài lần cho học sinh quen cách hỏi (thời điểm này gần như cho học sinh bắt trước cách hỏi) lúc này thì cả học sinh chưa mạnh dạn hay chưa biết đặt câu hỏi để hỏi đáp cũng dám phát biểu đặt lại câu hỏi cô giáo định hướng để hỏi bạn. Chỉ cần làm mẫu một vài lần học sinh sẽ biết cách đặt câu hỏi và cuộc hội thoại sẽ diễn ra tự nhiên. Khi đã nhận thức được hỏi bạn những gì tôi sẽ cho học sinh chuẩn bị câu hỏi trước ở nhà bằng cách cho học sinh xem bài trước. Hôm sau có những môn gì, mỗi môn các em chỉ cần đặt 2 đến 3 câu hỏi và ghi ra nháp để ngày mai hỏi bạn trong tiết học. Các câu hỏi của từng môn sẽ được tôi trực tiếp kiểm tra trong giờ truy bài, hoặc tôi cho học sinh tự kiểm tra chéo nhau trong giờ truy bài. Khi có
- 11 sự dám sát học sinh sẽ có ý thức chuẩn bị. Khi đã có sự chuẩn bị thì học sinh sẽ chủ động và tự tin hơn khi tham gia vào hoạt động hội thoại giao tiếp trong tiết học. Học sinh giao tiếp đối thoại chia sẻ kiến thức học tập. Học sinh đã biết đặt câu hỏi trong quá trình hội thoại và kĩ năng chia sẻ của học sinh đã tốt tôi sẽ định hướng cho cuộc hội thoại diễn ra lâu hơn và sâu hơn. Tôi đã phát triển cuộc hội thoại đa chiều cho các em. Tức không chỉ 1 học sinh hỏi 1 học sinh trả lời mà lôi cuốn nhiều học sinh tham gia vào một cuộc hội thoại kể cả giáo viên khi học sinh cần sự trợ giúp và khi học sinh khó khăn thì giáo viên chủ động tham gia vào cuộc hội thoại để tháo gỡ khó khăn cho học sinh. Trong quá trình dạy học khi rèn cho học sinh, tôi khá ấn tượng khi sử dụng kĩ thuật giao tiếp - đối thoại - phản biện trong tiết toán lớp 4 khi thực hiện phép chia số có ba chữ số cho số có một chữ số (phép chia có dư và thương có chữ số 0). Nhiều câu hỏi của học sinh để tạo ra cuộc hội thoại phản biện khiến tôi thật sự bất ngờ. Tư duy của các em được phát triển và năng lực của các em đã được hình thành một cách thật sự. 7128 264 1848 27 0000 Khi học sinh đã thực hiện xong phép chia của mình ra bảng con, tôi cho một học sinh lên bảng chia sẻ để tạo ra cuộc hội thoại. Ban đầu tôi chỉ định hướng học sinh bằng cách giới thiệu các tên gọi như: số dư của lượt chia thứ nhất, thứ hai, thứ ba, phép chia có mấy lượt chia... Sau đó tôi “thả” học sinh tự tham gia vào cuộc hội thoại để giao tiếp – phản biện. Học sinh chia sẻ bài đặt ra các câu hỏi vào cuộc hội thoại.
- 12 Vậy cuộc hội thoại lúc này ở đây là gì? Đó chính là cuộc giao tiếp để làm rõ bài làm của bạn thông qua các hệ thống câu hỏi. Ban đầu để định hướng cuộc hội thoại tôi là người đã chủ động giơ tay như một người học sinh để xin đặt câu hỏi trước. Câu hỏi đặt ra là: “Bạn cho mình hỏi trong phép chia của bạn số dư của lượt chia thứ nhất bằng bao nhiêu?” Từ câu hỏi đó học sinh trên bảng trả lời và chỉ vào chữ số 184. Sau đó tôi để 2,3 học sinh dưới lớp đặt câu hỏi cho học sinh có bài làm được chia sẻ theo lối tư duy đó. Sau đó cho học sinh đứng chia sẻ đặt lại câu hỏi cho các học sinh dưới lớp. Trong quá trình cuộc hội thoại diễn ra giữa học sinh – học sinh nếu học sinh gặp khó khăn tôi đã chủ động tương tác và tham gia vào cuộc hội thoại đó để cùng tháo gỡ với học sinh. Có thể định hướng cho học sinh mời học sinh khác biết câu trả lời hoặc là giáo viên giải thích để làm rõ hơn câu trả lời. Như vậy tôi đã hình thành được cuộc hội thoại “đa chiều” cho học sinh. Từ đó học sinh đặt ra được các câu hỏi trong cuộc hội thoại. Các câu trả lời đó chính là đã làm rõ “vấn đề” trong phép chia. Học sinh đưa ra các câu hỏi : - Số dư của lượt chia thứ hai trong phép chia bằng bao nhiêu? - Số dư của lượt chia thứ ba trong phép chia bằng bao nhiêu? - Trong số 1848 thì chữ số 8 ở đâu ra? - Để thực hiện phép chia này bạn dựa vào bảng chia mấy? - Trong phép chia của bạn số bị chia là bao nhiêu? số chia là bao nhiêu? - Muốn tìm số dư ở lượt chia thứ nhất, thứ hai, thứ ba bạn làm thế nào? - Muốn thử lại phép chia này bạn làm như thế nào? - Quy trình để thực hiện một lượt chia của bạn là gì(nhân ngược, trừ) - Phép chia của bạn là phép chia hết hay phép chia có dư? Vì sao? - Số dư của phép chia như thế nào với số chia? ... Từ một phép chia tưởng chừng chỉ có thể nhận xét đúng sai nhưng khi có sự tham gia định hướng của học sinh thì có rất nhiều câu hỏi để làm rõ vấn đề cho học sinh chia sẻ. Đó là cách duy trì một một cuộc hội thoại diễn ra lâu và sâu đạt hiệu quả. Nếu giáo viên không có cách thì học sinh sẽ không biết đặt câu hỏi hay, mà chỉ đặt những câu hỏi không trọng tâm làm mất thời gian của tiết học và năng lực của học sinh không được hình thành từ kiến thức bài học đó là điều tôi đặc biệt quan tâm. Cũng từ câu hỏi “Muốn thử lại phép chia này bạn làm như thế nào?” của học sinh tôi đã linh hoạt phát triển thành một dạng toán mới “ Tìm số bị chia trong một phép chia có dư” và từ câu hỏi “Số dư của phép chia như thế nào với số chia?” tôi đã mở rộng ra cách tìm số dư lớn nhất trong một phép chia có dư bằng số chia trừ đi 1 để cho các học sinh khá giỏi nắm được và giải được các bài toán khó hơn ngoài chương trình
- 13 sách giáo khoa. Khi cuộc hội thoại – giao tiếp – phản biện diễn ra sâu và thành thói quen thì việc dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh sẽ đạt hiệu quả tốt. Nhiều năng lực của học sinh được hình thành và phát triển giúp các em tự tin tham gia trong quá trình học tập cũng như khi xử lí các tình huống trong cuộc sống. Kĩ thuật dạy học này có ý nghĩa lớn lao đối với học sinh trong quá trình học.Ý nghĩa thứ nhất xuất hiện khi học sinh lần đầu tiên xây dựng trong tâm trí mình những ý tưởng cơ bản về nội dung kiến thức mình cần chiếm lĩnh đó là quá trình tư duy. Ý nghĩa thứ hai nảy sinh khi học sinh sử dụng những ý tưởng, hiểu biết của mình về nội dung kiến thức một cách hữa hiệu dùng để hỏi bạn hỏi cô, lúc này quá trình tư duy sẽ chuyển sang giai đoạn giao tiếp – phản biện, đối thoại. Lúc này năng lực của học sinh sẽ được bộc lộ rõ. Đối với học sinh Tiểu học thì ban đầu sử dụng kĩ thuật này ắt sẽ gặp nhiều khó khăn vì vốn từ của các em còn hạn chế, nhận thức chưa được sâu rộng đồng thời sự mạnh dạn tự tin cũng là rào cản khi các em tham gia đối thoại, phản biện trong giờ học. Vì vậy để sử dụng kĩ thuật này có hiệu quả thì người giáo viên có vai trò hết sức quan trọng trong việc định hướng, dẫn dắt, lôi cuốn học sinh với tình huống của bài học. Phải tạo cho học sinh cơ hội được nói, được phát biểu, được bày tỏ trong mọi lúc mọi nơi khi học sinh tới trường. Có như vậy mới dần bóc được lớp vỏ nhút nhát vốn cố hữa trong con người mỗi học sinh. Trong tiết học để cuộc hội thoại của học sinh diễn ra sâu và lâu điều này không phải dễ. Trong lớp có nhiều đối tượng học sinh, có những học sinh đã mạnh dạn và còn học sinh còn nhút nhát vì vậy tôi đã có tìm cho mình những cách làm riêng như vậy để giúp các em có đủ tự tin để tham gia vào cuộc hội thoại giao tiếp trong các tiết học để hình thành được các năng lực từ nội dung bài học. Để sử dụng kĩ thuật này có hiệu quả tôi thiết nghĩ giáo viên phải dần hình thành cho học sinh thói quen chia sẻ, thói quen hỏi đáp trong giờ học. Những câu hỏi xoay quanh nhiệm vụ học tập. Để học sinh biết đặt câu hỏi hay biết phản biện lẫn nhau thì học sinh phải có kiến thức và làm chủ kiến thức trong quá trình học. Vì vậy trong các tiết học hàng ngày giáo viên phải là người định hướng dẫn dắt cho học sinh và hướng dẫn các em khi các em chưa có kĩ năng đối thoại. Để cuộc đối thoại trong giờ học có hiệu quả thì điều tất yếu cần phải cho học sinh chuẩn bị bài trước khi đến lớp đồng thời định hướng cho học sinh cách hỏi bạn. Có thể yêu cầu học sinh ghi lại những câu hỏi mình muốn hỏi bạn qua một bài tập hoặc một tình huống học tập. Hoặc trong các tiết học hàng ngày giáo viên cần đặt nhiều câu hỏi để cho học sinh biết cách hỏi. Khi học sinh đã nhận biết và thành thói quen thì tất cả những điều giáo viên muốn hỏi học sinh để khắc sâu bài hay mở rộng bài .... đều được truyền tải đến học sinh và chính học sinh là những người làm chủ được những kiến thức đó. Và khi đó năng lực của học sinh mới thực sự được hình thành. Để có sự giao tiếp tốt trong tiết học hay

