Báo cáo Biện pháp Nâng cao hiệu quả tiết dạy học nói và nghe đối với học sinh Lớp 6

docx 14 trang Chăm Nguyễn 01/07/2025 500
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Biện pháp Nâng cao hiệu quả tiết dạy học nói và nghe đối với học sinh Lớp 6", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_bien_phap_nang_cao_hieu_qua_tiet_day_hoc_noi_va_nghe.docx

Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Nâng cao hiệu quả tiết dạy học nói và nghe đối với học sinh Lớp 6

  1. MỤC LỤC STT NỘI DUNG TRANG 1 I. Mở đầu 2 1. Tính cấp thiết của vấn đề 3 2. Mục tiêu 4 3. Đối tượng và phương pháp thực hiện 5 II. Nội dung 6 1. Cơ sở lý luận 7 2. Thực trạng 8 3. Các biện pháp thực hiện 9 a. Tổ chức dạy học nói 10 b. Tổ chức dạy học hoạt động nghe và tương tác 11 3. Thực nghiệm sư phạm 12 III. Kết luận và kiến nghị 13 1. Ưu điểm và hạn chế 14 2. Phương hướng khắc phục các hạn chế 15 3. Khả năng triển khai rộng rãi biện pháp 3
  2. NỘI DUNG BÁO CÁO I. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của vấn đề: Chương trình sách giáo khoa mới 2018 đã trải qua hai năm đi vào thực hiện. Song nó vẫn còn mới mẻ với giáo viên bởi đa số các thày cô vẫn vừa dạy vừa nghiên cứu, tìm tòi các phương pháp, các nguồn tư liệu, các văn bản hướng dẫn chỉ đạo chuyên môn của các cấp để thực hiện chương trình. Song nhiều thày cô vẫn còn lúng túng trong cách thức tiếp cận kiến thức mới của chương trình, lúng túng trong quy trình tổ chức các hoạt động dạy học theo phương pháp tổ chức dạy học mới sao cho hiệu quả. Trong đó tiết học nói và nghe là những tiết học được đưa vào chương trình với số lượng tương đối lớn và có nhiều đổi mới. Mặt khác, tiết “Nói và nghe” là tiết học vô cùng quan trọng trong chương trình Ngữ văn. Nói và nghe không chỉ rèn cho học sinh nói đúng, nói logic, nói diễn cảm mà còn biết nghe, cảm thụ và đánh giá bài nói, người nói. Từ đó biết rút kinh nghiệm cho bản thân. Đây cũng là một kĩ năng rất quan trọng trong giao tiếp. Vì thế, chương trình Ngữ văn hiện nay rất coi trọng cả bốn kĩ năng: đọc, viết, nói và nghe. 2. Mục tiêu Mục đích của việc tổ chức tiết dạy học nói và nghe là để giúp học sinh mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp, giúp các em phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp. Với biện pháp nâng cao hiệu quả tiết dạy học nói và nghe người viết muốn chia sẻ, đóng góp những ý kiến xây dựng, biện pháp rút ra từ thực tiễn việc dạy học, mong muốn được tháo gỡ phần nào khó khăn ban đầu trong việc tổ chức tiết dạy học nói và nghe của chương trình sách giáo khoa mới 2018 để các thầy cô dạy học tốt hơn và dễ dàng hơn với tiết học nói và nghe. 3. Đối tượng và phương pháp thực hiện - Đối tượng: Học sinh lớp 6 Trường THCS Thị Trấn Tiên Lãng, huyện Tiên Lãng. 4
  3. - Phương pháp thực hiện: Kết hợp linh hoạt, hiệu quả các phương pháp dạy học bao gồm: Phát huy tính tích của người học, dạy học tích hợp và phân hóa; đa dạng hóa các phương pháp, hình thức tổ chức và phương tiện dạy học. II. NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận: Chương trình môn Ngữ văn có 2 nội dung giáo dục lớn: yêu cầu cần đạt (gồm đọc, viết, nói và nghe) và nội dung dạy học (gồm kiến thức tiếng Việt, văn học và ngữ liệu). Để hình thành và phát triển bốn kĩ năng giao tiếp cần chú trọng các phương pháp dạy học thông qua hoạt động, thực hành. Dạy học nói và nghe chính là một hoạt động dạy học thông qua hoạt động, thực hành của học sinh. Mỗi bài học trong chương trình môn Ngữ văn 6 được thiết kế theo các hoạt động: đọc, viết, nói và nghe. Nói và nghe cũng là hai kĩ năng cần học hỏi, rèn luyện. Học nói và nghe cần chú ý cả kĩ năng tiếp thu nội dung thông tin; cả về thái độ, tình cảm khi nghe và nói; đồng thời, vận dụng trong học tập và sinh hoạt hằng ngày. Chương trình ngữ văn 2018, sách Ngữ văn 6 thì yêu cầu của nói và nghe là: - Nói: + Kể được một truyện truyền thuyết hoặc cổ tích, một trải nghiệm, kỉ niệm đáng nhớ. Trình bày được ý kiến về một vấn đề đáng quan tâm (một sự kiện lịch sử hay một vấn đề trong cuộc sống). + Có thái độ và kĩ năng nói phù hợp. - Nghe: + Nắm được nội dung trình bày của người khác. + Có thái độ và kĩ năng nghe phù hợp. - Nói nghe tương tác: + Biết tham gia thảo luận về một vấn đề. + Có thái độ và kĩ năng trao đổi phù hợp. Nội dung và yêu cầu trên được chia đều ra cho 10 bài học. Như thế mỗi bài có khoảng 2 tiết nói - nghe. 5
  4. Mục đích của dạy nói và nghe là nhằm giúp học sinh có khả năng diễn đạt, trình bày bằng ngôn ngữ nói một cách rõ ràng, tự tin; có khả năng hiểu đúng; biết tôn trọng người nói, người nghe; có thái độ phù hợp trong trao đổi, thảo luận. Dạy nói và nghe không chỉ phát triển năng lực giao tiếp mà còn giáo dục phẩm chất và nhân cách học sinh. 2. Thực trạng Trên thực tế việc dạy nói và nghe đã được thực hiện từ chương trình 2006 ở các tiết luyện nói. Nhưng trong việc tổ chức các tiết luyện nói đó, nhiều giáo viên vẫn còn mang tính áp đặt đối với học sinh. Đó là giáo viên thường cho học sinh học thuộc lòng và trình bày lại nội dung nói một cách máy móc. Các tiết dạy chưa chú trọng tới phương pháp tổ chức, các năng lực cần hướng tới và đạt được của học sinh dẫn đến tình trạng học sinh sợ học môn ngữ văn, sợ thuộc lòng các bài văn. Chương trình SGK phổ thông 2018 mới đưa vào thực hiện năm thứ hai, nhiều giáo viên mới vừa được tiếp nhận dạy nên kinh nghiệm tổ chức chưa có nhiều, còn lúng túng trong cách thức thể hiện. Trải qua 3 năm học với thời lượng học trực tuyến nhiều, việc học trực tiếp ở trường bị hạn chế cũng ảnh hưởng tới quá trình phát triển các kĩ năng, năng lực của học sinh, nhất là kĩ năng nói và nghe. 3. Các biện pháp thực hiện a. Tổ chức dạy học nói: Trong dạy nói giáo viên hướng dẫn cho học sinh quan sát, phân tích mẫu đồng thời hướng dẫn cách làm và tổ chức cho học sinh thực hành; hướng dẫn cách thức, quy trình chuẩn bị một bài thuyết trình và trình bày trước nhóm, tổ, lớp; cách thức và quy trình chuẩn bị một cuộc thảo luận, tranh luận và cách tham gia thảo luận, tranh luận. Cụ thể: + Bước 1: Cho học sinh quan sát mẫu (Một bài nói của học sinh hoặc một đoạn video có nội dung hoạt động nói.) 6
  5. + Bước 2: Hướng dẫn, phân tích cho học sinh nội dung nói, cách thức nói, lời giới thiệu, lời chào, động tác, cử chỉ khi nói, lời chốt khi kết thúc phần nói. + Bước 3: Hướng dẫn quy trình chuẩn bị: Chuẩn bị kĩ dàn ý nội dung nói bao gồm các phần, các mục, các ý rõ ràng, mạch lạc. Học sinh nói lần lượt từng phần theo trình tự dàn ý đã chuẩn bị. Nội dung bài nói cần tùy theo từng đối tượng học sinh để đưa ra yêu cầu cụ thể giúp các em dễ dàng và tự tin khi trình bày hoạt động học tập nói và nghe. VD đối với đối tượng học sinh khối đại trà, nội dung bài nói cần chọn dung lượng vừa phải, bố cục đơn giản, nhẹ nhàng phù hợp với đối tượng. Đối với đối tượng học sinh khá giỏi cần tùy vào khả năng của các em để mở rộng, nâng cao thêm nội dung bài nói. Đặc biệt khuyến khích các em khi nói có thể phát triển mở rộng nội dung nói so với dàn ý đã chuẩn bị. Khuyến khích học những học sinh có thể phát triển, mở rộng lời nói theo dàn ý đã chuẩn bị một cách hợp lí, đúng chủ đề và làm rõ thêm nội dung cần trình bày. + Bước 4: Cách thức tổ chức học sinh trình bày phần nói: Giáo viên nên đa dạng về cách thức tổ chức dạy nói cho học sinh. + Đối với học sinh đại trà: Thường các em hay nhút nhát, không tự tin trước đám đông, khả năng ghi nhớ chậm, thường chưa có khả năng phát triển mở rộng thêm nội dung nói trên cơ sở dàn ý chuẩn bị trước. Giáo viên nên cho các em nói cho nhau nghe trong nhóm nhỏ, rồi dần nói trong nhóm lớn, trong tổ trước khi các em nói trước lớp. Giáo viên sử dụng phương pháp tổ chức dạy học hợp tác nhóm nhỏ để tổ chức cho các em luyện nói. Nên cho các em nói theo khả năng của mình. (có thể nói một đoạn ngắn trước, rồi dần đến đoạn dài, có thể nói 1 hoặc vài đoạn thay vì nói liền lúc cả bài ) + Giáo viên có thể đa dạng hóa cách thức học sinh nói: Sử dụng hình thức tổ chức dạy học hợp tác nhóm nhỏ: cho các em chia nhiệm vụ nói. Một vấn đề có thể từ 3 đến 5 hoặc 6 em nói tùy theo nội dung, mỗi em nói một phần (hoặc một nội dung) và nhận xét đánh giá năng lực các em theo nhóm. VD khi dạy tiết nói và nghe 7
  6. bài 1, chủ đề Tôi đi học của sách giáo khoa Ngữ văn 6 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, với nội dung nói và nghe là kể lại một trải nghiệm của em, giáo viên sau khi hướng dẫn học sinh lập dàn ý chi tiết để chuẩn bị cho hoạt động dạy học nói và nghe. Trong phần chia nhóm thực hiện, giáo viên có thể định hướng các em chia nhỏ phần nội dung nói. Một em sẽ giới thiệu đội của mình, giới thiệu câu chuyện được kể. Một em nói sự việc mở đầu của câu chuyện. Một em nói sự việc phát triển của câu chuyện. Một em nói sự việc cao trào của câu chuyện, Một em nói sự việc kết thúc và ý nghĩa của câu chuyện. Như vậy trong khoảng thời gian của một lượt trình bày bài văn sẽ có 5 em được nói. Cách tổ chức hoạt động như vậy vừa tiết kiệm thời gian, vừa luyện được nhiều em nói, vừa tạo nên tính hấp dẫn gây hứng thú cho người nghe. + Giáo viên có thể sân khấu hóa hình thức dạy học nói của các em tùy theo nội dung bài nói. VD nếu nói phần tập làm văn kể chuyện, giáo viên có thể hướng dẫn các em nói bằng hình thức diễn xướng sân khấu (đóng kịch). Nói phần cảm thụ về tác phẩm hoặc đoạn trích có thể sử dụng kĩ thuật tổ chức làm phóng viên cho các em nhập vai đàm thoại từ đó nói lên những hiểu biết về tác giả, tác phẩm, tình cảm cảm xúc về tác phẩm + Khuyến khích học sinh có cách trình bày bài nói sáng tạo, có sử dụng phối hợp trang phục, đạo cụ cần thiết trong quá trình thực hiện bài nói cho sinh động. + Khuyến khích các em bằng cách chụp ảnh, quay video cho các em xem lại, hoặc gửi về cho phụ huynh cùng khen ngợi động viên các em. + Định hướng cho các em biết sử dụng các đạo cụ, các phương tiện nghe nhìn để minh họa thêm cho bài nói của mình. VD khi nói nội dung biểu cảm về đoạn trích hoặc tác phẩm thơ, học sinh có thể có các hình ảnh minh họa về tác giả, tác phẩm, tranh ảnh phù hợp với nội dung nói Học sinh có thể kết hợp cách thức nói thuyết trình và nói bộc lộ cảm xúc trong một hoạt động nói. Hoặc trong nhóm các em có thể chia mỗi bạn sẽ nói một phần: VD một bạn giới thiệu về tác giả, một bạn giới thiệu về tác phẩm, một bạn biểu lộ cảm xúc về nội dung. 8
  7. + Giáo viên có thể tổ chức hoạt động nói - nghe dưới hình thức một hội thi để tạo hứng thú cho học sinh. *Lưu ý: Để tổ chức tốt hoạt động nói ở bất kì hình thức nào, giáo viên nên xây dựng Phiếu đánh giá tiêu chí hoạt động nói để học sinh dựa vào phiếu tiên chí điều chỉnh nội dung nói cho tốt trước và trong khi thực hiện hoạt động nói. Phiếu đánh giá theo tiêu chí hoạt động nói. Tiêu chí Mức độ Chưa đạt Đạt Tốt (0 điểm) (1 điểm) (2 điểm) 1. Nội dung câu Nội dung sơ sài, Có đủ chi tiết để người Nội dung câu chuyện chưa có đủ chi tiết nghe hiểu được nội chuyện phong để người nghe hiểu dung câu chuyện phú, hấp dẫn, ấn câu chuyện nhưng chưa hay. tượng. 2. Diễn đạt Nói nhỏ, khó nghe, Nói to nhưng còn lặp Nói to, truyền nói lắp, ngập ngừng lại, ngập ngừng ở môt cảm, ngắt nghỉ vài câu. nhịp nhàng 3. Sử dụng yếu tố Điệu bộ thiếu tự tin, Điệu bộ tự tin, ánh mắt Điệu bộ rất tự phi ngôn ngữ mắt chưa nhìn vào hướng về người nghe, tin, ánh mắt (điệu bộ, ánh mắt, người nghe, nét nét mặt biểu cảm phù hướng về người cử chỉ, nét mặt ) mặt chưa biểu cảm hợp với nội dung câu nghe, nét mặt hoặc biểu cảm chuyện sinh động không phù hợp 4. Mở đầu và kết Không có chào hỏi Có chào hỏi và kết thức Chào hỏi và kết thúc hợp lý và không có kết bài nói thức một cách thúc bài nói hấp dẫn 9
  8. 5. Sáng tạo trong Không có, chuẩn bị Có sự chuẩn bị, có Sáng taọ hình cách kể, chu đáo sơ sài phương tiện song chưa thức, chuẩn bị trong chuẩn bị các chu đáo chu đáo phương tiện hỗ trợ Tổng điểm: ./10 b. Tổ chức dạy học hoạt động nghe và tương tác + Trong dạy nghe, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách nắm bắt nội dung nghe, cách hiểu và cách đánh giá quan điểm, ý định của người nói; cách kiểm tra những thông tin chưa rõ; có thái độ nghe tích cực và tôn trọng người nói, tôn trọng những ý kiến khác biệt; cách hợp tác, giải quyết vấn đề với thái độ tích cực. + Bước 1: Chuẩn bị tương tác: Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách hiểu nội dung bài nói của bạn bằng cách định hướng hệ thống câu hỏi hướng vào bài nói của bạn bao gồm: hình thức nói, nội dung chủ đề nói, từng phần từng ý khi nói, điều em tâm đắc nhất, điều em thấy cần rút kinh nghiệm, điều em thấy chưa rõ. - Giáo viên hướng dẫn học sinh cách thức tương tác về nội dung nói của bạn sau khi bạn đã trình bày xong phần nói của mình. Trên cơ sở các nội dung nghe đã định hướng trước, học sinh nêu ý kiến tương tác với bạn nói và các bạn khác cũng cùng hoạt động nghe với mình. Hướng dẫn học sinh nhận xét đánh giá, bổ sung, nêu những điều mình còn băn khoăn chưa rõ, nêu những điều mình thấy tâm đắc cần học tập + Bước 2: Tổ chức: Giáo viên hướng dẫn các em cụ thể về thái độ nghe, thái độ tương tác. Không chỉ các em nghe tương tác với bạn nói mà các em nghe còn tương tác với nhau để cùng thảo luận về một vấn đề. Giáo viên có thể ra biểu điểm cụ thể và chấm điểm hoạt động nói, hoạt động nghe và tương tác của học sinh. Như vậy không chỉ các em nói được đánh giá mà các em nghe, các em tương tác cũng được nhận xét đánh giá từ đó kích thích các em ý thức nói nghe và hứng thú trong hoạt động học 10
  9. nói, nghe. VD sau khi nghe bạn nói về nội dung: Kể lại một lại nghiệm học sinh có thể tương tác các nội dung như sau: + Cách thức nói (đã to rõ ràng chưa? Đã diễn cảm chưa? + Nội dung: Đã đúng thể loại chưa? Đã đúng chủ đề, hoặc đề bài yêu cầu chưa? + Các sợ việc được kể đã hấp dẫn chưa? Câu chuyện có lời thoại chưa? Các sự việc có hợp lí không? Kết thúc truyện hay chưa?... + Cách thể hiện bài nói của bạn dưới dạng đóng vai có hấp dẫn không? + Em thích nhất phần nói của bạn, nhóm bạn ở điểm nào? + Nếu em đánh giá bạn tốt thì em thấy cần học tập ở bạn điều nào? - Giáo viên cần xây dựng Bảng kiểm tra kĩ năng nói của người nói và kĩ năng nghe của người nghe. Bảng kiểm Bảng tự kiểm tra kĩ năng nói Bảng tự kiểm tra kĩ năng nghe Nội dung kiếm tra Đạt/ Nội dung kiểm tra Đạt/ Chưa đạt Chưa đạt Kể được nội dung một trải Nắm và hiểu được nội dung nghiệm đáng nhớ của bản thân chính của một trải nghiệm đáng nhớ của bản thân mà bạn kể. Kể có sự sáng tạo cách kể, nội Đưa ra được những nhận xét dung câu chuyện hấp dẫn, ấn về ưu điểm, sự sáng tạo tượng, trong lời kể hay những hạn chế bạn còn mắc phải. Nói rõ ràng, âm lượng phù Thái độ chú ý tôn trọng, hợp, kết hợp lời nói với cử chỉ, chăm chú, nghiêm túc động ánh mắt, điệu bộ, hình ảnh, 11
  10. phim ảnh (nếu có sử dụng). viên, khích lệ khi bạn kể Đảm bảo thời gian quy định. chuyện. Trả lời được câu hỏi của người nghe. (Nếu có) Khi xây dựng Phiếu đánh giá theo tiêu chí hoạt động nói và bảng kiểm để tự kiểm tra kĩ năng nói và tự kiểm tra kĩ năng nghe GV có thể dễ dàng hướng dẫn HS bám sát các tiêu chí này để rèn cho mình kĩ năng nói, kĩ năng nghe. Đặc biệt, với Phiếu đánh giá theo tiêu chí hoạt động nói và bảng kiểm này HS không chỉ đánh giá bài nói của bạn, thầy cô đánh giá trò nữa mà HS còn được tự đánh giá mình nói như thế nào, mình nghe như thế nào, đã ở mức đạt chưa, nếu chưa thì cần chỉnh sửa điều gì. 3. Thực nghiệm sư phạm Trước khi áp dụng phương pháp trên: - Nhiều em còn rụt rè, chưa tự tin khi nói. Nhiều em nói bé, nói ngập ngừng, nói chưa rõ nội dung. Khả năng nghe, và phản biện còn nhiều hạn chế. Số học sinh Số học sinh nghe, Số học sinh nói Số học sinh mạnh dạn, tự tin hiểu ý người nói chưa tự tin. không dám nói khi nói và phản biện 26/200 hs 30/200 hs 121 hs 23/200 hs - Sau khi áp dụng những biện pháp nêu trên thì học sinh có sự chuyển biến tương đối tốt: - Các em không còn rụt rè, e ngại mà tự tin hơn. - Lớp học hào hứng, sôi nổi hơn. - Nội dung nói được sắp xếp hợp lí, lô gic, trọn vẹn. - Cách nói và tác phong nói có tiến bộ: Nói trôi chảy, giọng phù hợp, biết kết hợp biểu cảm qua nét mặt, cử chỉ..., biết mở đầu và kết thúc bài nói. 12
  11. - Các em nghe chăm chú, biết nhận xét, chia sẻ, đánh giá bài nói của nhau và biết rút kinh nghiệm. Số học sinh Số học sinh nghe, Số học sinh nói Số học sinh mạnh dạn, tự tin hiểu ý người nói chưa tự tin. không dám nói khi nói và phản biện 120/ 200 hs 150/200 78 hs 2/ 200hs III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Ưu điểm và hạn chế: - Ưu điểm: Dễ dàng thực hiện và tạo hứng thu cho học sinh trong hoạt động dạy học nói và nghe. Giúp các em phát triển năng lực bản thân hiệu quả. Giúp các em tự tin, sáng tạo trong các hoạt động nói. - Hạn chế: Cần mất nhiều thời gian cho quá trình thực hiện. bao gồm thời gian chuẩn bị nói, thời gian nói nghe tương tác. Một số em học sinh kĩ năng nói còn yếu, nhút nhát, thiếu tự tin khi thực hiện hoạt động nói. 2. Phương hướng khắc phục các hạn chế: - Giáo viên cần tăng cường việc hướng dẫn học sinh chuẩn bị tỉ mỉ, kĩ lưỡng ở nhà để việc thực hiện trên lớp được trôi chảy. - Cần động viên và giành nhiều thời gian cho các em kĩ năng nói yếu, nhút nhát, thiếu tự tin. Khuyến khích các em nói từng đoạn một, tập nói một mình thường xuyên ở nhà trước khi nói trước nhóm, tổ và lớp. 3. Khả năng triển khai rộng rãi biện pháp: - Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động dạy nói vè nghe nêu trên hoàn toàn có thể áp dụng rộng rãi và hiệu quả với đối tượng học sinh lớp 6 nói riêng và học sinh THCS nói chung. 13