Báo cáo Biện pháp Nâng cao chất lượng thi vào Lớp 10 THPT môn Toán

docx 24 trang Chăm Nguyễn 01/07/2025 500
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Biện pháp Nâng cao chất lượng thi vào Lớp 10 THPT môn Toán", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_bien_phap_nang_cao_chat_luong_thi_vao_lop_10_thpt_mo.docx

Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Nâng cao chất lượng thi vào Lớp 10 THPT môn Toán

  1. PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ Trong các môn học ở bậc THCS, môn Toán đóng vai trò hết sức quan trọng, bởi lẽ học môn Toán giúp cho học sinh dần hình thành và phát triển được sự linh hoạt, sáng tạo và tư duy trừu tượng. Học toán giúp con người nâng cao trình độ tính toán, khả năng tư duy logic và sáng tạo. Trong cuộc sống hàng ngày, các kĩ năng như tính toán, vẽ hình, đo đạc, ước lượng, kĩ năng sử dụng các dụng cụ Toán học, máy tính điện tử là rất cần thiết đối với người lao động trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ngoài ra, môn Toán còn góp phần phát triển nhân cách cho học sinh, nó hình thành ở học sinh các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như đức tính cẩn thận, kiên trì, ý chí vượt khó, tác phong làm việc khoa học, Do có vị trí quan trọng như vậy nên môn Toán luôn có mặt trong tất cả các kì thi đối với học sinh phổ thông. Đối với học sinh lớp 9, ngoài các kì thi giống các khối lớp dưới thì kì thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT là một kì thi hết sức quan trọng. Từ cấp 1 lên cấp 2 các em không phải thi chuyển cấp, vậy nên thi vào lớp 10 là kì thi chuyển cấp đầu tiên, cũng là một trong những mốc quyết định con đường mai sau của các em. Và kết quả của kì thi tuyển sinh và lớp 10 THPT cũng là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng dạy và học Toán của các trường THCS. Vì vậy việc nâng cao chất lượng thi vào lớp 10 THPT là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các trường THCS, cũng như các giáo viên giảng dạy bộ môn Toán. Nhiều năm gần đây, chất lượng bộ môn Toán thi vào lớp 10 THPT của trường THCS Thụy Hòa luôn giữ ở mức ổn định. Qua thực tế một số năm giảng dạy môn Toán lớp 9, tôi đã tích lũy được một số kinh nghiệm và viết thành chuyên đề “Biện pháp nâng cao chất lượng thi vào lớp 10 THPT môn Toán”. 3
  2. PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng công tác dạy học và tính cấp thiết a) Ưu điểm: - Ban giám hiệu trường THCS Thụy Hòa, tổ chuyên môn rất quan tâm đến chất lượng thi vào lớp 10 THPT. - Trường THCS Thụy Hòa có đội ngũ giáo viên nói chung và giáo viên dạy bộ môn Toán nói riêng luôn nhiệt huyết, tận tâm với công việc và luôn lấy chất lượng giảng dạy làm thước đo năng lực của bản thân. - Công tác coi thi, chấm thi tại trường diễn ra rất nghiêm túc, giúp các em phần nào đánh giá đúng năng lực của bản thân. b) Hạn chế và nguyên nhân hạn chế - Một bộ phận không nhỏ các em học sinh không có động lực phấn đấu. Kĩ năng trình bày lời giải của một toán còn nhiều hạn chế. - Phụ huynh học sinh chủ yếu là làm nông nghiệp và đi làm công nhân tại các khu công nghiệp nên không có nhiều thời gian quan tâm đến con em mình. - Giáo viên dạy môn Toán tại trường THCS Thụy Hòa mấy năm gần đây không ổn định do có giáo viên chuyển đi. Nhà trường phải hợp đồng thêm một số giáo viên trẻ, còn ít kinh nghiệm giảng dạy ở những khối lớp dưới nên chất lượng môn Toán của học sinh vào lớp 9 còn rất nhiều hạn chế. Điểm kiểm tra cuối năm môn Toán của khối 8 trường THCS Thụy Hòa năm học 2018 – 2019: Tổng số 0 - 2 điểm 3 – 4 điểm Điểm trên 5 9 – 10 điểm học sinh Số HS Tỉ lệ % Số HS Tỉ lệ % Số HS Tỉ lệ % Số HS Tỉ lệ % 165 41 24,9 45 27.22 73 44.24 6 3.64 4
  3. Kết quả trên cho thấy chất lượng của học sinh đầu vào lớp 9 môn Toán rất thấp nên việc xây dựng những biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán nói chung và chất lượng môn Toán thi vào lớp 10 THPT là rất cần thiết. Bởi lẽ, chất lượng thi vào lớp 10 THPT cũng là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng của một trường THCS. 2. Biện pháp nâng cao chất lượng thi vào lớp 10 THPT môn Toán Bên cạnh các biện pháp thường áp dụng khi dạy học chính khóa thì khi ôn thi vào lớp 10 THPT tôi đặc biệt chú ý đến các biện pháp sau: a) Biện pháp 1: Đưa ra kế hoạch, chương trình dạy ôn thi lớp 10 và chỉ tiêu chất lượng chi tiết cho riêng từng lớp 9 ngay từ đầu năm. b) Biện pháp 2: Khai thác triệt để các sai lầm, thiếu sót của học sinh. c) Biện pháp 3: Biện pháp tâm lý. d) Biện pháp 4: Phân luồng học sinh theo năng lực học tập. 3. Thực nghiệm sư phạm 3.1. Mô tả cách thức thực hiện a) Biện pháp 1: Đưa ra kế hoạch, chương trình dạy ôn thi lớp 10 và chỉ tiêu chất lượng chi tiết cho riêng từng lớp 9 ngay từ đầu năm Để nâng cao chất lượng thi vào lớp 10 của một trường THCS thì không phải một giáo viên hay một lớp có thể làm được. Mà muốn làm được điều đó phải có sự cố gắng của cả một tập thể. Do vậy, các giáo viên dạy Toán khối 9 cần bàn bạc và thống nhất để đưa ra kế hoạch, chương trình dạy ôn thi lớp 10 và chỉ tiêu phấn đấu thật chi tiết từ đầu năm để từ đó có định hướng giảng dạy ngay từ trong năm học. Khi xây dựng kế hoạch ôn thi vào lớp 10 phải theo cấu trúc đề thi do Sở Giáo dục và Đào tạo quy định. Cập nhật kịp thời các văn bản hướng dẫn của 5
  4. Sở Giáo dục và Đào tạo về thi tuyển sinh vào lớp 10, nắm được các dạng bài tập mà trong đề thi sẽ có, từ đó tìm kiếm các nguồn tài liệu phù hợp. Sau khi có sự thống nhất giữa các giáo viên dạy Toán khối 9, chương trình ôn thi vào lớp 10 môn Toán của trường THCS Thụy Hòa năm học 2019 – 2020 như sau: STT Tên bài học 1 Ôn tập rút gọn và các bài toán liên quan 2 Ôn tập hệ phương trình 3 Ôn tập phương trình bậc hai và định lý Vi-ét 4 Ôn tập hàm số và đồ thị hàm số 5 Ôn tập giải bài toán bằng cách lập phương trình, hệ phương trình 6 Ôn tập các bài toán hình học có nội dung tính toán 7 Ôn tập các bài toán hình học có nội dung chứng minh 8 Ôn tập tổng hợp Tùy theo chất lượng của từng lứa học sinh mà nhà trường và tổ chuyên môn đề ra chỉ tiêu chất lượng cho phù hợp. Chỉ tiêu chất lượng môn Toán của khối lớp 9 trường THCS Thụy Hòa năm học 2019 – 2020 như sau: Lớp Tổng số Giỏi Khá TB Yếu Kém HS 9A 41 34 7 0 0 0 9B 40 11 29 0 0 0 9C 40 0 20 20 0 0 9D 43 0 21 22 0 0 Ngay từ đầu năm học, trường THCS Thụy Hòa đã tổ chức thi phân lớp tương đối chính xác, các học sinh có cùng trình độ vào học một lớp. Do đó, tôi có thể nắm sát năng lực học tập của từng học sinh, của từng lớp để từ đó phân loại 6
  5. và giao nhiệm vụ học tập vừa sức cho các em nhằm kích thích hứng thú học tập của các em. Tôi phân loại học sinh thành 3 nhóm chính: + Nhóm học sinh khá – giỏi. + Nhóm học sinh trung bình. + Nhóm học sinh yếu – kém. Khi soạn giáo án ôn thi vào lớp 10 cần hệ thống hóa cho học sinh những kiến thức từ cơ bản đến nâng cao, ôn tập cho học sinh theo dạng chuyên đề và cần có sự khác nhau giữa các lớp chọn và các lớp không chọn. Đối với các lớp không chọn thì chỉ yêu cầu học sinh làm các dạng bài tập đơn giản, quen thuộc trong đề thi để các em có thể đạt được điểm trên 5. Còn đối với các lớp chọn cần có các bài tập khó hơn để các em có thể chinh phục các điểm 9, điểm 10 khi làm bài thi. Đối với học sinh lớp chọn cần đưa ra một số bài tập có yêu cầu tư duy cao hơn một chút, ví dụ như một số bài tập sử dụng bất đẳng thức tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, 1 1 1 Bài 1: Cho x > 0, y > 0 thỏa mãn . Tìm GTNN của A = x y x y 2 Lời giải: 1 1 Vì x > 0, y > 0 nên 0; 0 ; x 0 ; y 0 x y 1 1 Áp dụng bất đẳng thức Cauchy cho hai số dương và ta được: x y 1 1 1 1 1 1 1 . xy 4 x y 2 x y xy 4 Áp dụng bất đẳng thức Cauchy cho hai số dương x và y ta được: A x y 2 xy 2 4 4 7
  6. Dấu “=” xảy ra x = y = 4 Vậy min A = 4 khi x = y = 4 Nhận xét: Trong ví dụ trên ta đã sử dụng bất đẳng thức Cosi theo hai chiều ngược nhau: a b 1 1 1 + Dùng ab để dùng điều kiện tổng từ đó được xy 4 2 x y 2 + Dùng a b 2 ab làm giảm tổng x y để dùng kết quả xy 4 Bài 2: Tìm giá trị lớn nhất của biểu thức M 3x 5 7 3x Lời giải: 5 7 ĐKXĐ: x 3 3 Ta có: A2 3x 5 7 3x 2 3x 5 7 3x 2 2 3x 5 7 3x Áp dụng bất đẳng thức Cauchy cho hai số không âm 3x-5 và 7-3x ta được: A2 2 2 3x 5 7 3x 2 3x 5 7 3x 4 Dấu “=” xảy ra 3x 5 7 3x x 2 Suy ra: max A2 = 4 khi x = 2. Vậy maxA = 2 khi x = 2. Trong quá trình ôn thi, cần cho học sinh giải các đề thi của các năm trước để học sinh làm quen và cũng giúp giáo viên kiểm tra trình độ của học sinh. Và đặc biệt hơn là trong mỗi buổi dạy cần cho học sinh làm bài tập trắc nghiệm tương ứng với từng mảng kiến thức. Ví dụ đối với mảng kiến thức về bài toán có nội dung tính toán có thể đưa ra một số câu hỏi trắc nghiệm như sau: 8
  7. Câu 1: Đường tròn (O;R) có hai bán kính vuông góc với nhau là OA và OB, gọi H là trung điểm của AB thì độ dài OH là: A. R B. R 2 C. R 3 D. R 2 2 2 3 Câu 2: Cho tam giác ABC đều nội tiếp đường tròn (O). Các tiếp tuyến tại B và C cắt nhau tại M. Độ lớn của góc BMC là: A. 90 B. 45 C. 60 D. 120 Câu 3: Cho đường tròn (O; R) có hai đường kính vuông góc là AB và CD. Điểm M thuộc cung nhỏ BD sao cho MA = 2MB. Nối MC cắt AB tại H. Độ dài HB là: A. 2R B. R C. R D. 3R 3 3 2 2 Câu 4: Cho tam giác ABC vuông tại A, biết AB = 3cm, góc B = 60 . Độ dài cạnh AC là: 3 3 A. 6cm B. 3 3cm C. cm D. cm 3 2 Câu 5: Cho đường tròn (O; R) đường kính AB; điểm M thuộc tia đối của tia AB sao cho MA = R. Kẻ tiếp tuyến MC tới đường tròn. Độ dài MC là: 3R A. R B. R 2 C. D. R 3 2 Câu 6: Cho đường tròn (O; R) dây AB R 2 . Số đo cung nhỏ AB là: A. 60 B. 90 C. 30 D. 120 Câu 7: Cho tam giác ABC vuông cân tại A nội tiếp đường tròn (O) đường kính BC. Tia phân giác của góc ABC cắt đường tròn (O) tại M M B . Khi đó góc MOC có độ lớn là: A. 2230' B. 30 C. 45 D. 60 9
  8. Câu 8: Từ điểm A nằm ngoài đường tròn (O; R) kẻ hai tiếp tuyến AB, AC tới đường tròn. Biết góc BAC = 60 . Độ dài cung nhỏ BC là: A. R B. R C. 2 R D. 4 R 3 2 3 3 Câu 9: Cho tam giác ABC vuông tại A, cạnh BC = 6cm, góc C =30 , độ dài cạnh AB là: A. 6 3 B. 3 3 C. 3 D. 2 3 Câu 10: Cho tam giác đều ABC cạnh bằng 2cm. Bán kính đường tròn nội tiếp tam giác là: 1 1 A. 1 cm B. 3 cm C. cm D. cm 2 3 Đáp án: Câu 1 Câu 2 Câu 3 Câu 4 Câu 5 Câu 6 Câu 7 Câu 8 Câu 9 Câu 10 A C A B B C C C C D b) Biện pháp 2: Khai thác triệt để các sai lầm, thiếu sót của học sinh Là học sinh thì việc mắc sai lầm, thiếu sót khi giải Toán là khó tránh khỏi. Cho nên việc tìm ra những nguyên nhân và biện pháp khắc phục sửa chữa các sai lầm đó là điều cấp thiết. Trên thế giới, nhiều nhà khoa học nổi tiếng đã phát biểu nhiều ý kiến bổ ích về vấn đề này. G.Pôlya đã nói: “Con người phải biết học ở những sai lầm và những thiếu sót của mình”. Trong quá trình giải toán, nhất là các tiết luyện tập, tiết trả bài kiểm tra, giáo viên dạy Toán cần khai thác triệt để các sai lầm, thiếu sót của học sinh, từ đó giải thích và đưa ra cách làm chính xác của bài toán. 10
  9. * Ví dụ 1: Học sinh hiểu sai về khái niệm căn bậc hai của số dương a và căn bậc hai số học của số dương a: - Tình huống: Chọn đáp án đúng: Căn bậc hai số học của 9 là: A. 3 B. 3 C. -3 D. 81 - Học sinh có thể chọn đáp án sai là A. - Nguyên nhân: Do học sinh hiểu sai về khái niệm căn bậc hai của số dương a và căn bậc hai số học của số dương a. Từ đó không phân biệt được hai khái niệm này. - Đáp án đúng: B - Biện pháp khắc phục: Cần giảng cho học sinh phân biệt rõ hai khái niệm: + Căn bậc hai của số không âm a là số x sao cho x2 = a. Số dương a có đúng hai căn bậc hai là hai số đối nhau: số dương kí hiệu là a và số âm kí hiệu là a . Số 0 có đúng một căn bậc hai chính là số 0. + Với số dương a, số a được gọi là căn bậc hai số học của a. Số 0 cũng được gọi là căn bậc hai số học của 0. Khi nói đến a ta phải có a 0 và a 0 . Nghĩa là a không được âm. Do vậy trong tình huống trên không được chọn đáp án có giá trị âm. * Ví dụ 2: Học sinh không nắm vững điều kiện để hai đường thẳng song song. - Tình huống: Giải bài tập sau: 11
  10. 1 Cho hai đường thẳng: d1 : y 2m 1 x 5 m 2 d2 : y 3x 1 3m (với m là tham số) Tìm m để hai đường thẳng d1 và d2 song song với nhau? - Lời giải sai: - Nguyên nhân: Học sinh chưa nắm vững điều kiện để hai đường thẳng y ax b a 0 và y a'x b' a' 0 song song. Học sinh chỉ để ý đến điều kiện của a mà không chú ý đến điều kiện của b trong trường hợp hai đường thẳng song song. 1 - Lời giải đúng: ĐK: m 2 2m 1 3 m 2 Ta có: d1 / / d2 (vô lí vì không thể xảy ra đồng thời 5 1 3m m 2 m = 2 và m 2 ) Vậy không có giá trị nào của x thỏa mãn yêu cầu đề bài. 12
  11. - Biện pháp khắc phục: Khi dạy phần này giáo viên cần nhấn mạnh và khắc sâu cho học sinh điều kiện để hai đường thẳng (d1): y ax b a 0 và (d2): y a'x b' a' 0 song song với nhau. a a' d1 / / d2 b b' c) Biện pháp 3: Biện pháp tâm lý - Tạo không khí cởi mở, thân thiện trong khi dạy học. Tạo không khí cởi mở, thân thiện giữa cô và trò trong khi dạy học là một yếu tố rất quan trọng. Tôi không quan niệm giáo dục là phải làm cho học sinh sợ mình thì chúng mới chịu học. Dĩ nhiên nghiêm khắc là cần thiết nhưng nghiêm khắc quá đến mức học sinh phải sợ thì sẽ gây cảm giác căng thẳng, ức chế ở học sinh. Khi cơ thể căng thẳng, stress thì việc tiếp thu kiến thức sẽ trở nên khó khăn hơn. Hơn nữa, khi nội dung bài học kéo dài với lượng kiến thức lớn, học sinh sẽ không đủ kiên nhẫn để lắng nghe và ghi nhớ những gì thầy cô dạy bảo. Đã qua rồi cái thời “gõ đầu trẻ”, giáo dục bây giờ đã khác trước rất nhiều. Tôi đã được xem một chương trình truyền hình thực tế “Thầy cô chúng ta đã thay đổi”, tuy tôi không trực tiếp tham gia chương trình đó nhưng tôi thấy mình khá may mắn khi được xem và lắng nghe những tâm sự rất chân thành của các giáo sư, tiến sĩ, các thầy cô cũng trực tiếp đứng lớp như tôi và cả các em học sinh. Và tôi thấy mình thật sự phải thay đổi. Trong quá trình lên lớp bản thân tôi luôn tạo một không khí cởi mở, thân thiện, chú ý việc giáo dục đạo đức học sinh, linh hoạt trong cách xử lý các tình huống nhằm tác động tình cảm trực tiếp đến các em, khơi gợi niềm yêu thích, say mê đối với bộ môn Toán. Khi các em yêu thích môn Toán thì đó có thể là một trong những động lực để các em học Toán tốt hơn. Trong khi dạy, đôi khi tôi còn lồng ghép vào nội dung bài giảng những mẩu chuyện cười nhỏ, làm tăng tính hài hước trong quá trình dạy và học. Một người giáo viên có tính hài hước sẽ luôn được học sinh yêu mến và gần gũi hơn những giáo viên quá cứng nhắc. 13