Báo cáo Biện pháp Nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu Lớp 4

docx 9 trang Chăm Nguyễn 13/07/2025 790
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Biện pháp Nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu Lớp 4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_bien_phap_nang_cao_chat_luong_giang_day_phan_mon_luy.docx
  • pptxBáo cáo Biện pháp Nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4.pptx

Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu Lớp 4

  1. + Bản thân tôi được tham gia các lớp bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, các buổi sinh hoạt chuyên môn do phòng Giáo dục và Đào tạo, nhà trường tổ chức nên đã được giao lưu học hỏi và đã cập nhật được mục tiêu, nội dung chương trình để tiếp cận với chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh. + Giáo viên được phân công phụ trách khối, lớp có kinh nghiệm nhiều năm công tác, trình độ chuyên môn nghiệp vụ khá tốt; hiểu được đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. - Về học sinh: 100% học sinh có đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập. b. Khó khăn: - Về phía giáo viên: Một số giáo viên đầu tư cho từng tiết dạy chưa nhiều. Trong giờ dạy Luyện từ và câu, việc tìm và sáng tạo phương pháp, biện pháp giảng dạy phù hợp với yêu cầu bài học và đối tượng học sinh còn hạn chế. Một số giáo viên chưa kích thích được sự ham muốn, yêu thích môn học này của học sinh. - Về phía học sinh: + Tình trạng học sinh tiếp thu kiến thức còn thụ động, ít chịu khó suy nghĩ, tìm tòi cách học để nhớ lâu kiến thức vẫn còn khá phổ biến. + Trình độ tiếp thu của học sinh trong lớp không đồng đều. Một số em chưa thích học phân môn Luyện từ và câu. + Mạch kiến thức về vốn từ, cấu tạo từ, từ loại, thành phần câu, là mạch kiến thức mới, lên lớp 4 các con mới bắt đầu làm quen nên khá khó với học sinh. Việc giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4 là việc là rất cần thiết nhằm tạo nên sự hứng thú, tích cực, chủ động và sáng tạo cho các em khi học Luyện từ và câu. Đồng thời góp phần hình thành các năng lực, phẩm chất cho học sinh Tiểu học. Qua việc nhận lớp đầu năm, nắm bắt thông tin học sinh, tôi đã tiến hành khảo sát học sinh lớp 4B tôi chủ nhiệm. Tôi đã lập được bảng phân loại như sau: BẢNG SỐ LIỆU KHẢO SÁT VỐN TỪ CỦA HỌC SINH LỚP 4B Lớp Sĩ số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành SL % SL % SL % 4B 29 2 6,89 20 68,9 7 24,1 Từ kết quả trên cho thấy, số học sinh hoàn thành tốt tỉ lệ còn thấp, học sinh chưa hoàn thành chiếm tỉ lệ tương đối cao. Chính vì vậy, tôi đã luôn cố gắng tìm mọi biện pháp tốt nhất để nâng cao chất lượng học tập của học sinh.
  2. 2. Biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu. Nói đến dạy Luyện từ và câu ở Tiểu học, người ta thường nói tới ba nhiệm vụ chủ yếu là giúp học sinh phong phú hoá vốn từ, chính xác hoá vốn từ và tích cực hoá vốn từ. Trong ba nhiệm vụ cơ bản đó, nhiệm vụ phong phú hoá vốn từ, phát triển, mở rộng vốn từ được coi là trọng tâm. Bởi vì, đối với học sinh Tiểu học, từ ngữ được cung cấp trong phân môn Luyện từ và câu giúp các em hiểu được các phát ngôn khi nghe - đọc. Như vậy, có thể nói phân môn Luyện từ và câu có vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ cho học sinh, giúp học sinh có vốn từ phong phú và biết nói câu hoàn chỉnh để phục vụ giao tiếp hàng ngày. Ngoài ra, ở một chừng mực nào đó, phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học còn có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh một số khái niệm có tính chất sơ giản ban đầu về cấu tạo từ và nghĩa của từ Tiếng Việt. Sau đây là một số biện pháp mà bản thân tôi đã thực hiện trong quá trình giảng dạy. Biện pháp 1: Giúp học sinh lĩnh hội kiến thức bài học nhẹ nhàng, tự nhiên, phát huy được tính tích cực của học sinh. Để phát huy được tính tích cực của học sinh, tôi thấy cần tạo cơ hội để cho tất cả các em có cơ hội được suy nghĩ, được viết ra những gì mình nghĩ, được trao đổi, lắng nghe và trình bày ý kiến cá nhân mình với bạn bè. Ví dụ: Bài Mở rộng vốn từ Nhân hậu- Đoàn kết (trang 17) Bài 1: Tìm các từ ngữ: a, Thể hiện lòng nhân hậu, tình cảm yêu thương đồng loại. b, Trái nghĩa với nhân hậu hoặc yêu thương. c, Thể hiện tinh thần đùm bọc hoặc giúp đỡ đồng loại. d, Trái nghĩa với đùm bọc hoặc giúp đỡ. Trong bài tập này, tôi sử dụng kĩ thuật thảo luận nhóm chuyên sâu, kĩ thuật mảnh ghép để học sinh tự tìm tòi, phát hiện kiến thức. Tôi chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm 4 học sinh, trên bàn mỗi nhóm có các tấm thẻ với 4 màu khác nhau. Trong mỗi tấm thẻ có ghi từng yêu cầu cụ thể ứng với từng phần a, b, c, d. Tôi giao nhiệm vụ cho mỗi học sinh chọn một tấm thẻ màu mình thích, rồi di chuyển về các nhóm có biển nhóm được dán màu cùng với màu tấm thẻ mình vừa chọn, tạo thành nhóm mới (nhóm chuyên sâu). Tại đây học sinh có cùng thẻ màu giống nhau sẽ cùng yêu cầu thảo luận như nhau, tôi giao nhiệm vụ cho các
  3. nhóm thảo luận trong thời gian khoảng 3-5 phút. Sau khi thảo luận, mỗi cá nhân sẽ viết kết quả thảo luận vào tấm thẻ của mình. Hết thời gian thảo luận, yêu cầu các học sinh trở về nhóm cũ, tạo thành nhóm Mảnh ghép. Tại nhóm Mảnh ghép, từng học sinh sẽ chia sẻ cho các bạn trong nhóm về kết quả thảo luận ở nhóm chuyên sâu, cả nhóm sẽ hoàn thành 1 phiếu học tập chung gồm đầy đủ nội dung bài tập. Mẫu phiếu học tập như sau: Tìm các từ ngữ: Thể hiện lòng Trái nghĩa với Thể hiện tinh Trái nghĩa với nhân hậu, yêu nhân hậu - yêu thần đùm bọc đùm bọc hoặc thương đồng thương hoặc giúp đỡ giúp đỡ. loại đồng loại. . . Sau thời gian làm việc nhóm Mảnh ghép khoảng 7-8 phút, học sinh đại diện một số nhóm sẽ lên trình bày kết quả thảo luận, các nhóm còn lại bổ sung, tương tác, yêu cầu giải nghĩa từ, đặt câu có từ vừa tìm được. Với hình thức tổ chức này, học sinh làm việc rất tích cực, thảo luận nhóm hiệu quả, học sinh nào cũng phải làm việc và chia sẻ trong nhóm, phát huy tốt năng lực của mỗi em, giúp các em tự tin bày tỏ ý kiến trước nhóm cũng như trước lớp. Đặc biệt vốn từ rất phong phú, không những tìm được từ ngữ mà học sinh còn hiểu được nghĩa của một số từ khó và vận dụng vào ngữ cảnh phù hợp qua việc đặt câu có từ ngữ đó. Biện pháp 2: Cuốn hút học sinh vào các hoạt động học tập một cách chủ động tích cực thông qua các hình thức dạy học. Giáo viên sử dụng các hình thức tổ chức dạy học như; Học sinh thảo luận nhóm, đàm thoại, sắm vai, trò chơi Qua đó học sinh lĩnh hội kiến thức, tích cực tự giác, “Học mà chơi – chơi mà học”. Không khí học tập thoải mái khiến học sinh mạnh dạn tự tin, lớp học sôi nổi, học sinh hứng thú tiếp thu bài. Ví dụ: Khi dạy các tiết Danh từ, tôi tổ chức cho học sinh như sau: - Cho học sinh thảo luận nhóm để tìm từ đúng với yêu cầu đề bài.
  4. - Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “gắn thẻ theo nhóm từ” (gồm các nhóm: Từ chỉ người, từ chỉ vật, từ chỉ hiện tượng thiên nhiên.) Chia thành 2 đội chơi, mỗi đội khoảng 4-5 em, sau thời gian khoảng 3 phút, hai đội cùng tham gia chơi gắn thẻ theo nhóm từ, đội nào gắn nhanh và đúng thì đội đó thắng cuộc. Với các bài động từ - tính từ tôi cũng hướng dẫn học sinh tương tự. Như vậy trong một tiết học, việc giáo viên vận dụng linh hoạt các hình thức dạy học trong dạy Luyện từ và câu là nhiệm vụ cần thiết. Với cách làm này đã thu hút học sinh hào hứng tham gia vào bài học, các con chủ động tiếp thu kiến thức, vận dụng làm bài tốt mà giờ học vẫn nhẹ nhàng. Biện pháp 3: Phối hợp với các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Các hoạt động ngoài giờ lên lớp giúp học sinh có những hiểu biết ngoài kiến thức được học trong chương trình chính khóa. Do đó việc phối kết hợp các hoạt động ngoài giờ lên lớp là rất cần thiết. Giáo viên giảng dạy cần có sự kết hợp với giáo viên tổng phụ trách, thông qua các buổi chào cờ, các buổi hoạt động ngoại khóa như: Tổ chức các cuộc thi: Búp măng xinh, hội vui học tập, giao lưu học sinh giỏi . Ví dụ: Vào buổi sinh hoạt đầu tuần, trường tôi thường tổ chức các hoạt động ngoại khóa theo từng khối lớp, mỗi tuần một khối lớp, các khối lựa chọn hình thức tổ chức khác nhau. Đến khối 4, tôi tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi Rung chuông vàng, tôi mở rộng vốn từ cho học sinh về chủ điểm « Thương người như thể thương thân »: Yêu cầu học sinh viết ra bảng các từ có chứa tiếng nhân có nghĩa là lòng thương người. Sau thời gian quy định, học sinh nào viết được 3 từ trở lên thì được chơi tiếp, học sinh nào viết dưới 3 từ sẽ bị loại cuộc chơi. Học sinh nào được ở lại « Sàn thi đấu» sau cùng thì được thưởng. Với cách tổ chức hoạt động ngoại khóa này, học sinh sẽ rất hào hứng và có sự chuẩn bị tốt cho cuộc chơi (vì chủ đề được giáo viên thông báo trước), vừa giúp các em mở rộng vốn từ, vừa hứng thú với môn học. Biện pháp 4: Gắn kiến thức bài học với thực tế. Kiến thức Tiếng Việt vốn bắt nguồn từ đời sống thực tế, nếu trong khi dạy, giáo viên liên hệ thực tế để học sinh tìm kiến thức thì các em làm bài tập tốt hơn, hứng thú hơn. Ngược lại sau mỗi hoạt động hoặc mỗi bài, giáo viên cần liên hệ thực tế để giáo dục các em vận dụng những điều đã học vào cuộc sống. Có như vậy, các em mới cảm thấy kiến thức bài học thật gần gũi, yêu thích môn học hơn. Ví dụ: Mở rộng vốn từ: Ý chí- Nghị lực (tuần 13)
  5. Bài 3: Viết một đoạn văn ngắn nói về một người do có ý chí, nghị lực nên đã vượt qua nhiều thử thách, đạt được thành công. Với bài tập này, tôi yêu cầu học sinh có thể liên hệ ngoài việc viết về những nhân vật mà các em được học, được xem trên báo, đài các em có thể viết về những bạn trong lớp, trong trường hoặc chính người thân của em. Và thực tế khi dạy bài này, khá nhiều học sinh trong lớp tôi đã chọn viết bạn trong lớp và người thân của mình. Khi mời đọc bài, sửa trước lớp, các em rất ngạc nhiên, thích thú. Tôi đã chọn bài làm tốt kể về những người gần gũi xung quanh để giáo dục, nêu gương trước lớp. Vì những nhân vật đó chính là con người cụ thể mà các em được biết, được thấy, như vậy sẽ có tính giáo dục tốt hơn. Ví dụ: Hoa là con út trong một gia đình khá đông con. Gia đình bạn rất nghèo. Bố mẹ bạn ấy đã già yếu. Quãng đường từ nhà đến trường khá xa, lại phải đi học bằng chiếc xe đạp cũ, thường xuyên bị hỏng. Đã vậy, Hoa còn mắc chứng bệnh đau khớp nên bạn rất khổ sở về mùa lạnh. Khó khăn như vậy nhưng chưa lúc nào bạn lùi bước. Nhờ cả lớp và cô giáo động viên, bạn càng quyết tâm học tập. Thành tích học tập của bạn rất cao, luôn là một học sinh giỏi đứng đầu lớp. Bạn Phạm Hồng Hoa lớp em đúng là một tấm gương về ý chí, nghị lực đáng học tập. Như vậy từ thực tiễn cuộc sống, các con đã gắn vào với bài học một cách nhẹ nhàng. Rất nhiều học sinh trong lớp có bài viết hay, cảm động với lời kể chân thành mộc mạc. 3. Kết quả đạt được Những nội dung trên được vận dụng rất nhiều trong giảng dạy phân môn Luyện từ và câu, cụ thể ở các dạng bài: Mở rộng vốn từ, dùng từ đặt câu, nhận diện, phân loại từ, nối ô thích hợp với từ và nghĩa của từ, nghĩa của thành ngữ, tục ngữ Đối tượng cụ thể là học sinh lớp Bốn tôi đang dạy. Qua sử dụng kinh nghiệm dạy học trên, tôi thấy học sinh đã tiến bộ rất nhanh trong quá trình học môn Tiếng Việt. Các em đã có nhiều kĩ năng và kinh nghiệm hơn khi dùng từ, đặt câu (trong nói và viết). Khi các em đã nắm vững nghĩa của từ và các quy tắc viết câu, sử dụng dấu câu đúng, thì đây là động lực thúc đẩy các em rất nhiều, tạo cho các em có thói quen thích khám phá tìm tòi trong ngôn ngữ để đặt câu. Qua thời gian vận dụng, tôi thấy kết quả đạt được như sau: - Học sinh nắm chắc hơn về từ, mở rộng được vốn từ. - Học sinh có kĩ năng tốt trong việc sử dụng từ đặt câu.
  6. - Học sinh có hứng thú, tích cực học tập, các em cũng đã yêu thích học Luyện từ và câu. - Đặc biệt tác phong nhanh nhẹn hơn trong học tập, trong vui chơi, các em tự tin trong giao tiếp. Để có cơ sở đánh giá chính xác về những nhận định trên, tôi đã tiến hành thống kê thực tế, qua kết quả làm bài kiểm tra cuối năm của học sinh trong năm học 2023- 2024. Kết quả đạt được như sau: BẢNG SỐ LIỆU KHẢO SÁT VỐN TỪ CỦA HỌC SINH LỚP 4B Lớp Sĩ số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành SL % SL % SL % 4B 29 9 31,3 18 62,1 2 6,89 Kết quả trên cho thấy, khi được áp dụng các giải pháp trên, kết quả thu được khả quan hơn. Cuối năm, học sinh đạt Hoàn thành tốt tăng lên rõ rệt so với kết quả đầu năm học. Kết quả đạt được là nguồn động viên tôi rất nhiều trong công tác giảng dạy nói chung và dạy Luyện từ và câu nói riêng. 4. Kết luận Để nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt, trước hết mỗi giáo viên không được xem nhẹ một phân môn nào trong môn Tiếng Việt, cũng như một mảng kiến thức nào, lập kế hoạch bài học chú ý phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để thu hút học sinh chủ động nắm kiến thức. Phải luôn nghiêm túc thực hiện giáo dục, giảng dạy theo nguyên tắc từ đơn giản đến phức tạp, quan tâm bồi dưỡng đối với tất cả các đối tượng học sinh. Bên cạnh đó, không ngừng học tập nâng cao trình độ kiến thức, tích lũy kinh nghiệm, học hỏi đồng nghiệp, tích cực tìm tòi cái mới áp dụng vào công việc dạy học nhằm đạt kết quả cao nhất. Để học sinh “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” người giáo viên là người có vai trò quan trọng nhất. Bên cạnh việc tác động vào nội dung và phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, việc thiết lập được mối quan hệ hợp tác tích cực tốt đẹp giữa thầy và trò, giữa các trò, cũng sẽ tạo hứng thú cho học sinh. Hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn cùng với một bầu không khí thân ái hữu nghị trong giờ học, sẽ tạo ra sự hứng thú cho cả thầy và trò. Bởi vì, học là hạnh phúc không chỉ vì những lợi ích mà nó mang lại, mà hạnh phúc còn nằm ngay trong chính sự học.
  7. 5. Kiến nghị đề xuất a. Đối với tổ chuyên môn Tăng cường tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, trao đổi kinh nghiệm về công tác dạy học phân môn Luyện từ và câu. Nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn. b. Đối với Lãnh đạo nhà trường Tôi tha thiết mong các cấp lãnh đạo thường xuyên tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng học sinh để tôi được giao lưu học hỏi với những sáng kiến hay, những kinh nghiệm quý báu của đồng nghiệp giúp cho việc dạy Luyện từ và câu tốt hơn, đáp ứng được với sự phát triển của xã hội vì sự kì vọng của cha mẹ học sinh và nhà trường. Cần tạo thêm điều kiện về cơ sở vật chất để giáo viên và học sinh có điều kiện học tập tốt nhất. Động viên khuyến khích kịp thời những học sinh, giáo viên đạt thành tích cao trong giảng dạy và học tập. Thanh Khương, ngày 10 tháng 10 năm 2024 Giáo viên Nguyễn Thị Thủy