Báo cáo Biện pháp Nâng cao chất lượng dạy Kể chuyện Lớp 4
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Biện pháp Nâng cao chất lượng dạy Kể chuyện Lớp 4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_bien_phap_nang_cao_chat_luong_day_ke_chuyen_lop_4.doc
Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Nâng cao chất lượng dạy Kể chuyện Lớp 4
- chứng kiến hoặc tham gia: học sinh rất ít tư liệu để xây dựng cốt truyện. Các em chỉ kể vài câu đã "không còn gì để nói". Bởi vậy, sức hấp dẫn của tiết học Kể chuyện rất ít, chỉ một số học có năng khiếu tham gia. Thực hiện sáng kiến “ Biện pháp nâng cao chất lượng dạy Kể chuyện lớp 4” nhằm giúp tôi tích lũy thêm kinh nghiệm giảng dạy cho bản thân, trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp trong phân môn Kể chuyện nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung. Tuy nhiên, các vấn đề tôi nêu ra mang tính hệ thống giúp người đọc có thể hình dung một cách đầy đủ từ cấu trúc chương trình, thực trạng nghiên cứu của vấn đề đến các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 4. 4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến Sáng kiến "Biện pháp nâng cao chất lượng dạy Kể chuyện lớp 4" là một sáng kiến nhỏ nhưng lại có ý nghĩa thiết thực rất lớn và quan trọng trong việc phát triển các kĩ năng cần thiết, đặc biệt là kĩ năng nói cho học sinh Tiểu học. Các biện pháp trên ngoài việc ứng dụng cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Kể chuyện lớp 4 còn có thể triển khai áp dụng cho khối lớp 5 và vận dụng linh hoạt hơn ở các khối lớp 1, 2, 3. Tôi thấy đây là một tài liệu tham khảo hữu ích không chỉ cho giáo viên trường tôi mà còn cho giáo viên tiểu học nói chung. Qua quá trình giảng dạy, nhờ kiên trì, bền bỉ áp dụng những biện pháp như đã nêu trên, tôi tiến hành khảo sát và thu được kết quả rất khả quan, các em thích và học tốt môn Kể chuyện hơn. 5. Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến. Tổ chức họp cha mẹ học sinh ngay từ đầu năm học, phổ biến nội dung chương trình và yêu cầu học tập đối với lớp 4. Cha mẹ HS cần quan tâm và thường xuyên kiểm tra sự chuẩn bị bài của các em. Giáo viên cần rèn cho HS thói quen chuẩn bị bài trước khi lên lớp. Đối với tổ khối chuyên môn phải thường xuyên đưa nội dung của chuyên đề về Kể chuyện vào thảo luận và rút kinh nghiệm. 3
- Thường xuyên tổ chức các cuộc thi có quy mô và ý nghĩa lớn như: Thi viết và áp dụng sáng kiến kinh nghiệm, làm đồ dùng dạy học, thi giáo viên giỏi các cấp... MÔ TẢ SÁNG KIẾN 1. HOÀN CẢNH NẢY SINH SÁNG KIẾN 1.1. Cơ sở lý luận Môn Tiếng Việt cũng như các bộ môn khác ở Tiểu học có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh bốn kĩ năng cơ bản đó là: “Nghe, nói, đọc, viết” để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Trong môn Tiếng Việt có rất nhiều phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết, Tập làm văn...Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy, cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết về xã hội. Ngoài ra môn Tiếng Việt còn bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam. Trong đó phân môn Kể chuyện dạy ở bậc tiểu học có tầm quan trọng: Tạo cho học sinh tư duy, phân tích, tổng hợp, biết cách tóm tắt, diễn đạt rèn kĩ năng nói cho học sinh giúp học sinh có vốn từ ngữ, kĩ năng kể rõ ràng, diễn cảm, nhập tâm vào nhân vật khi kể, hiểu ý nghĩa nội dung từng câu chuyện, từng kiểu bài kể chuyện. Phân môn Kể chuyện giúp học sinh củng cố kỹ năng kể chuyện đã được hình thành và rèn luyện ở các lớp 1, 2, 3, đồng thời hình thành những kỹ năng mới về kể chuyện. Kể chuyện còn giúp học sinh mở rộng hiểu biết, góp phần hình thành nhân cách con người mới. Vì các câu chuyện được kể ở lớp 4 đều có nội dung liên quan đến 10 chủ điểm học tập của các em. Cùng với nội dung học tập ở các phân môn khác, nhất là ở các bài tập đọc, tập làm văn, những câu chuyện được đọc, được nghe, được kể ở lớp 4 có tác dụng rất lớn trong việc mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống, con người, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm nhân cách cho học sinh đáp ứng yêu cầu phát triển của con người Việt Nam trong thế kỉ 21 - thế kỉ của thông tin, tri thức và trí tuệ. 1.2. Cơ sở thực tiễn 4
- Phân môn Kể chuyện lớp 4 gồm 3 kiểu bài Kể chuyện theo tranh , kiểu bài Kể chuyện đã nghe, đã đọc và Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia. Đây là kiểu bài rất khó đối với cả giáo viên và học sinh. Kể chuyện đã nghe, đã đọc: đòi hỏi học sinh phải sưu tầm các câu chuyện trong sách báo hoặc trong đời sống hàng ngày (nghe người thân hoặc ai đó kể), đến lớp kể lại cho cô giáo và các bạn cùng nghe. Câu chuyện phải có nội dung thuộc đúng yêu cầu của đề bài. Đây là yêu cầu tương đối cao với một số học sinh, bắt buộc các em phải có sự chuẩn bị trước, phải sưu tầm, tìm chọn câu chuyện ngoài sách giáo khoa. Với kiểu bài Kể chuyện đã chứng kiến hoặc tham gia: yêu cầu học sinh phải kể những truyện về người thật, việc thật; tự tạo ra những câu chuyện từ những con người, sự vật có thật trong cuộc sống xung quanh mà các em đã biết, đã thấy, có thể ở trên sân khấu, ti vi , cũng có khi chính các em là nhân vật trong câu chuyện. Kiểu bài bài này vốn nằm trong phân môn Tập làm văn của sách giáo khoa cũ, nay được chuyển sang phân môn Kể chuyện để thực sự rèn kỹ năng nói cho học sinh. Bên cạnh đó, kiểu bài này còn có mục đích rèn cho học sinh thói quen quan sát, ghi nhớ. Đây thực sự là một yêu cầu cao đối với học sinh Tiểu học. Trường hợp này đòi hỏi sự sáng tạo ở mức cao. Học sinh phải nhớ lại những câu chuyện đã đựơc chứng kiến hoặc tham gia rồi dựa vào cách thức xây dựng câu chuyện đã học để sắp xếp lại các chi tiết và kể. Thực tế các tiết dạy kể chuyện kiểu bài đã nghe, đã đọc và chứng kiến hoặc tham gia: học sinh rất ít tư liệu để xây dựng cốt truyện. Các em chỉ kể vài câu đã "không còn gì để nói". Bởi vậy, sức hấp dẫn của tiết học Kể chuyện rất ít, chỉ một số học sinh tham gia. Vậy chương trình đưa ra loại bài mới là quá tải với học sinh ? Tôi cho rằng, chương trình muốn rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh thông qua các tình huống giao tiếp diễn ra hàng ngày. Học và vận dụng trong thực tế cuộc sống đó mới là cái đích của quá trình dạy học. 5
- Tuy nhiên, theo hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học môn Tiếng Việt (phân môn Kể chuyện) đã điều chỉnh như sau: Kể chuyện đã nghe, đã đọc có thể cho học sinh kể lại chuyện trong sách giáo khoa hoặc nghe giáo viên đọc, kể tại lớp rồi kể lại; Kể chuyện chứng kiến được chứng kiến hoặc tham gia sẽ không dạy một số bài khó nhằm giảm bớt độ khó so với trình độ, nhận thức và tư duy của đối tượng học sinh Tiểu học. Từ những vấn đề trên, tôi cùng đồng nghiệp tổ 4-5 của nhà trường đã nghiên cứu trao đổi tìm giải pháp tối ưu tháo gỡ những thắc mắc, băn khoăn trong quá trình giảng dạy phân môn Kể chuyện. Vấn đề đặt ra là xác định vai trò của người giáo viên phải làm gì để giờ kể chuyện hiệu quả nhất. Đó là lí do mà tôi chọn sáng kiến: “Biện pháp nâng cao chất lượng dạy Kể chuyện lớp 4”. 2. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC KỂ CHUYỆN TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC. Qua thực tế giảng dạy phân môn Kể chuyện tôi thấy: *Về phía giáo viên: Thực tế trong giảng dạy vẫn còn một số giáo viên khi tổ chức các hoạt động dạy trong giờ Kể chuyện chưa phát huy được tính tích cực, sáng tạo, năng động của học sinh; chưa linh hoạt xử lí các tình huống có vấn đề khó dạy giờ Kể chuyện; chưa động viên kịp thời học sinh, chưa giúp các em nhập vai vào nhân vật khi kể dẫn đến giờ học hiệu quả chưa cao. Đa số các giáo viên đều có tâm lý rất ngại dạy Kể chuyện vì đặc thù của phân môn yêu cầu cao về tổ chức lớp học và nghệ thuật diễn đạt. Giáo viên phải có sự chuẩn bị chu đáo cho bài dạy. Với kiểu bài Kể chuyện theo tranh lớp 4 yêu cầu giáo viên phải thuộc truyện, có giọng kể hay, hấp dẫn để kích thích, lôi cuốn học sinh, tạo sự hứng thú, yêu thích môn học. Cô kể hay, trò sẽ bắt chước kể hay như cô. Mà không phải giáo viên nào cũng có giọng kể tốt nên giáo viên gặp không ít khó khăn. 6
- Với kiểu bài Kể chuyện đã nghe, đã đọc (kiểu 2) và Kể chuyện được chứng kiến, tham gia (kiểu 3) càng yêu cầu cao với giáo viên. Nhiều tình huống xuất hiện trong tiết dạy khiến giáo viên lúng túng khi xử lý. Giáo viên chưa thể hiện hết vai trò của mình khi dạy hai kiểu bài này. Hơn nữa vốn kiến thức về nội dung truyện kể có hạn chế nên giáo viên khó kiểm soát được hết tất cả các câu chuyện mà học sinh chọn kể. *Về phía học sinh: Các em rất thích nghe cô kể chuyện nhưng cũng rất ngại khi được gọi kể lại câu chuyện cho cô và các bạn cùng nghe. Nhiều học sinh không thể hiện được giọng điệu, điệu bộ, cử chỉ khi kể chuyện. Các em kể chuyện thiếu tự nhiên, gò ép, chỉ dừng ở mức độ thuộc lòng câu chuyện (đối với học sinh năng khiếu). Học sinh khác kể như đọc, vừa kể vừa cố nhớ lại một cách máy móc từng câu từng chữ trong văn bản. Với tiết Kể chuyện kiểu 2 và kiểu 3, càng khó khăn hơn với học sinh. Đa số các em chỉ kể được câu chuyện trong sách giáo khoa mà không tìm được câu chuyện khác ngoài sách. Vì vậy tiết học có vẻ nhàm chán với các em vì các câu chuyện đó các em đều đã được biết, được học rồi. Kiểu bài kể chuyện thứ 3 độ khó càng nhân lên với học sinh. Trong tiết học này chỉ có rất ít em kể được từng đoạn truyện hay cả câu chuyện theo yêu cầu của đề bài. Học sinh khác nghe nhưng chưa hiểu được nội dung, ý nghĩa truyện. Tiết học trở nên rất trầm, nặng nề. Qua thực tế tìm hiểu việc dạy và học Kể chuyện của trường, bằng việc dự giờ thăm lớp, gặp gỡ trao đổi với giáo viên dạy lớp, tôi thấy việc dạy Kể chuyện chưa thực sự được chú trọng. Mỗi giáo viên chưa thấy hết tầm quan trọng của phân môn Kể chuyện trong chương trình. Tiết học chưa có sự chuẩn bị chu đáo của cả giáo viên và học sinh nên hiệu quả chưa cao. Học sinh năng khiếu chưa bộc lộ hết khả năng của mình còn học sinh chậm luôn thụ động, không được phát triển. 7
- Cách dạy học sinh trên làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình nhận thức và sự phát triển tư duy của các em, không đảm bảo được mục tiêu và yêu cầu dạy học phân môn Kể chuyện. Tôi đã tiến hành kiểm tra, phỏng vấn học sinh và kết quả là: Sau phần kể mẫu hoặc hướng dẫn của giáo viên: Số học sinh chủ động tham gia kể chuyện chỉ đạt: 30%, còn lại là e dè nói được đoạn rất ngắn hoặc diễn đạt ê a. Tôi đã tiến hành khảo sát đầu tháng 9 (năm học 2016 - 2017) đối với các em học sinh lớp 4C thông qua câu hỏi: Em có thích học môn Kể chuyện không? Thích Bình thường Không thích 25 học sinh 8 = 32% 11 = 44% 6 = 24% Số lượng học sinh yêu thích môn Kể chuyện rất ít, chỉ chiếm 1/3 số lượng học sinh cả lớp. Điều này không thể tạo nên một tiết Kể chuyện thành công. Nguyên nhân của thực trạng trên: - Cả giáo viên và học sinh đều không có sự chuẩn bị chu đáo - một việc rất quan trọng và cần thiết trong tiết Kể chuyện. - Một số giáo viên chưa nghiên cứu kỹ bài dạy, việc soạn bài chỉ là hình thức sao chép mà chưa tìm ra cách huy động sự tập trung tư duy và vốn sống của học sinh để tham gia bài học. - Khi dạy thiếu linh hoạt, sáng tạo, còn lệ thuộc vào tài liệu có sẵn. - Nhà trường, cụm trường ít tổ chức các chuyên đề, hội thảo về phân môn Kể chuyện. - Nhà trường và cha mẹ học sinh chưa quan tâm mua thêm sách tham khảo, truyện đọc, báo dành cho thiếu niên nhi đồng, khuyến khích học sinh kể chuyện. - Học sinh lớp 4 còn e dè, nhút nhát nên kể chuyện thiếu tự nhiên làm giảm sự hấp dẫn của câu chuyện. Để giảm bớt những hạn chế trên, tôi đề xuất một số ý kiến nhằm “Nâng cao chất lượng dạy kể chuyện lớp 4”. 8
- 3. CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN LỚP 4 Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 gồm có tổng số 31 tiết Kể chuyện. Trong đó sự phân bố số tiết cho kiểu bài thứ nhất và thứ hai là tương đương. - Kể chuyện theo tranh 11 tiết. - Kể chuyện đã nghe, đã đọc gồm 12 tiết. - Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia gồm 8 tiết. Số tiết dành cho kiểu bài này ít hơn không phải vì kiểu bài này không được coi trọng mà vì kiểu bài này mới và khó hơn nên chỉ bắt đầu dạy từ tuần thứ 9 của chương trình học. Tuy nhiên, theo điều chỉnh nội dung chương trình dạy học, để phù hợp hơn với trình độ và nhận thức của học sinh tiểu học, 5/8 tiết kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia đã được điều chỉnh: không dạy. Thay vào đó, giáo viên có thể cho học sinh luyện tập kể những câu chuyện các em đã được nghe, được đọc nằm trong chủ điểm đang học. Những câu chuyện của 31 tiết Kể chuyện đều gắn với 10 chủ điểm trong SGK Tiếng Việt lớp 4. Đó là những vấn đề về đời sống tinh thần của con người như phẩm chất năng lực (tài năng, sức khoẻ, thẩm mỹ); sở thích (du lịch, thám hiểm, vui chơi). Tên 10 chủ điểm đó là: Thương người như thể thương thân. Măng mọc thẳng. Trên đôi cánh ước mơ. Có chí thì nên. Tiếng sáo diều. Người ta là hoa đất. Vẻ đẹp muôn màu. Những người quả cảm. Khám phá thế giới. Tình yêu cuộc sống. * So sánh kiểu bài “ Kể chuyện theo tranh” với kiểu bài “Kể chuyện đã nghe, đã đọc” và “ Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia”. 9
- Kể chuyện được chứng Kể chuyện theo Kể chuyện đã nghe kiến hoặc tham gia (Kiểu tranh (Kiểu 1) đã đọc (Kiểu 2) 3) 1. Nội dung Học sinh chăm chú Học sinh phải tự đọc, Quan sát cuộc sống xung nghe thầy cô kể câu tự tìm truyện trong quanh, cuộc sống của chính chuyện để ghi nhớ sách báo hoặc trong mình, học sinh tự tạo lập rồi kể lại (truyện đời sống hàng ngày một câu chuyện về người không được in trong (nghe người thân hoặc thật, việc thật. sách giáo khoa) ai đó kể) để kể lại. 2. Mục đích Rèn cho học sinh kĩ năng Rèn cho học sinh kĩ Rèn cho học sinh kĩ nói, thói quen quan sát, ghi năng nghe, nói, kích năng nói, kĩ năng nhớ diễn biến những sự thích học sinh ham nghe, kĩ năng ghi nhớ việc diễn ra trong đời sống đọc sách. tái hiện. hàng ngày. Nói theo trình tự sự việc. Biết nhấn những chi tiết cốt lõi. 3. Độ khó (Kiểu bài quen (Khó hơn kiểu bài 1) (Khó hơn kiểu bài 2) thuộc) Học sinh phải tìm Dựa trên sự việc đã biết Học sinh chỉ cần ghi được câu chuyện trong đời sống, học sinh nhớ lời kể của thầy trong sách vở hoặc phải tạo ra được câu cô và kể lại. nghe ai đó kể lại. Biết chuyện của mình có cốt chọn truyện phù hợp truyện, các nhân vật và xây chủ đề yêu cầu. dựng tình tiết phù hợp. Qua bảng so sánh trên có thể thấy: Kiểu bài 2 khó hơn kiểu bài 1 vì các em phải tự đọc, tự tìm truyện trong sách báo hoặc trong đời sống hằng ngày (nghe người thân, hoặc ai đó kể) để kể lại. Tuy nhiên, nếu học sinh tìm được câu chuyện để kể thì kiểu bài 2 lại dễ hơn 10
- kiểu bài 1 vì với kiểu bài 2 các em có nhiều cơ hội đạt được thành công hơn do có cả một tuần để chuẩn bị. Với kiểu bài 1 thì sự chuẩn bị trước chỉ là xem tranh minh hoạ và đọc yêu cầu của bài kể chuyện trong sách giáo khoa. Thích thú với câu chuyện chọn được và muốn trổ tài với các bạn. Các em có thể đọc kĩ truyện hoặc luyện kể trước ở nhà nên đến lớp các em sẽ chủ động, tự tin tham gia tiết học, có nhiều khả năng đạt được thành công hơn là chỉ nghe thấy thày cô kể chuyện một, hai lần rồi ghi nhớ để kể lại. Kiểu bài 3 khó hơn kiểu bài 2 vì đòi hỏi học sinh phải tự mình tạo ra một câu chuyện theo yêu cầu của đề bài. Đã là câu chuyện thì phải có cốt truyện gồm các nhân vật và diễn biến sự việc xung quanh các nhân vật đó. 4. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỂ DẠY TỐT 3 KIỂU BÀI KỂ CHUYỆN. 4.1. Kiểu bài kể chuyện theo tranh. Chúng ta cần phân biệt được kể chuyện theo tranh và dùng tranh minh họa cho truyện. Tranh ảnh là đồ dùng trực quan có thể được sử dụng trong bất kì môn học nào. Nhưng các môn học khác sử dụng tranh khi giới thiệu khái niệm hoặc nhằm minh họa cho khái niệm, nhưng ở tiết dạy Kể chuyện của chương trình cải cách giáo dục, giáo viên sử dụng tranh vẽ để minh họa cho nội dung truyện, làm cho lời kể mẫu của mình sinh động và hấp dẫn hơn. Còn hình thức kể chuyện theo tranh của chương trình mới thì hoàn toàn khác. Giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ tranh vẽ thể hiện nội dung và diễn biến câu chuyện. Học sinh phải dựa vào tranh vừa là phương tiện trợ giúp trí nhớ một cách đắc lực, vừa là công cụ làm cho việc thể hiện lại câu chuyện một cách sinh động và hấp dẫn. Hình thức kể chuyện theo tranh là hình thức rất hay, phát huy được khả năng quan sát, óc tưởng tượng đặc biệt là phát huy khả năng nói (ngôn ngữ) ở các em. 4.1.1. Về đặc điểm của bài kể chuyện: Học sinh chú ý nghe giáo viên kể chuyện (2, 3 lần) và quan sát tranh minh họa, kể lại được câu chuyện vừa nghe kể trên lớp, trao đổi với bạn về nội dung ý nghĩa câu chuyện. Các em nghe bạn kể chuyện, kể tiếp được lời của bạn. Biết đánh giá nhận xét sau khi nghe bạn kể chuyện (về nội dung, giọng điệu, cử chỉ...) 11
- Giáo viên nên cố gắng tổ chức cho học sinh trao đổi, đối thoại nhiều chiều về nhân vật, về nội dung, về ý nghĩa câu chuyện. Nhưng vì học sinh ở bậc Tiểu học còn nhỏ nên người đưa ra câu hỏi chủ yếu là giáo viên, học sinh trả lời, nhận xét. 4.1.2. Các biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy. 4.1.2.1. Chuẩn bị chu đáo đồ dùng dạy học kết hợp với ứng dụng công nghệ thông tin. Trong giờ kể chuyện, giáo viên cần chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học: tranh minh họa, vật thật, sưu tầm tư liệu .... kích thích hứng thú cho học sinh để các em tích cực tham gia rèn luyện kĩ năng. Đặc biệt trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học nói chung và môn Kể chuyện nói riêng tạo hiệu quả rất lớn. Vì vậy, thay vì sử dụng đơn thuần phương pháp dạy học với bảng đen, phấn trắng mà các giáo viên khác thường làm, tôi quyết định sử dụng công nghệ thông tin trong phần lớn tiết dạy Kể chuyện theo tranh. Với phân môn Kể chuyện không chỉ kiểu bài Kể chuyện theo tranh mới áp dụng được công nghệ thông tin mà giáo viên có thể áp dụng đối với 2 kiểu bài còn lại. Điều đó giúp giáo viên tiết kiệm thời gian trong giảng dạy, đạt hiệu quả tốt, lôi cuốn, hấp dẫn học sinh trong tiết học thông qua những hình ảnh đẹp, sinh động, âm thanh nhẹ nhàng, phù hợp với nội dung câu chuyện. Ví dụ minh họa: Bài: “Bàn chân kì diệu” - Kể chuyện tuần 11 (TV4 tập 1-Trang 107) Với tiết học này, để cuốn hút học sinh vào hoạt động học tập thì ngay từ đầu, giáo viên cho học sinh quan sát tranh minh họa (Vẽ phóng to hoặc trình chiếu ) và nêu câu yêu cầu. Sau đó GV giới thiệu vào bài: ( Tại sao câu chuyện hôm nay của chúng ta lại có tên là bàn chân kì diệu? Có phải vì có phép thuật nào đó ở đôi bàn chân ấy không? Để giải thích điều đó cô cùng các em sẽ đi tìm hiểu thông qua tiết kể chuyện ngày hôm nay) 12
- Giáo viên kể nhấn các từ ngữ miêu tả hoàn cảnh, tâm trạng và nghị lực của cậu bé. Thể hiện được giọng các nhân vật: Cô giáo, cậu học trò. + Yêu cầu 1: Học sinh năng khiếu nêu nội dung tranh hình thành dàn ý sơ lược của truyện. Tranh 1: Ký đến lớp xin cô giáo cho học. Tranh 2: Cô giáo không dám nhận em vào học. Tranh 3: Cô giáo ngạc nhiên và cảm động thấy Ký tập viết bằng chân. Tranh 4: Ký được nhận vào học. Tranh 5: Cô giáo và các bạn lúc nào cũng tận tình giúp đỡ Ký. Tranh 6: Ký được thưởng hai huy hiệu của Bác Hồ. + Yêu cầu 2, 3, 4: Học sinh kể theo đoạn và cả câu chuyện trao đổi ý nghĩa truyện. * Với bài “Bàn chân kì diệu” yêu cầu phải có hệ thống các tranh vẽ phóng to. Nhưng chắc chắn tiết Kể chuyện sẽ thành công và lôi cuốn học sinh hơn khi giáo viên tìm hiểu và trình chiếu thêm cho học sinh về hình ảnh của cậu bé - thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký từ khi nhỏ đến lúc trưởng thành. Từ hình ảnh thầy luyện viết bằng chân đến hình ảnh thầy dùng đôi chân để sử dụng máy tính như thế nào, trong cuộc sống sinh hoạt ra sao?...Qua đó giáo viên giúp học sinh thấy được dễ dàng hơn nghị lực phi thường của một con người bình thường. * Lời kể của giáo viên là quan trọng, tuy nhiên nếu ta biết vận dụng linh hoạt với công nghệ thông tin thì đó sẽ là điều hoàn hảo. Cũng vẫn tiết Kể chuyện “Bàn chân kì diệu”. Giáo viên có thể ghi âm lời kể chuyện ở nhà trước để chỉnh sửa giọng kể sao cho thật chuẩn và hấp dẫn. Việc làm đó sẽ giúp giáo viên đảm bảo được thời gian, thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy học “Lấy học sinh làm trung tâm.” 4.1.2.2. Kể mẫu tốt kết hợp ghi bảng hợp lí, đặt câu hỏi gợi sự tò mò... sẽ giúp học sinh chủ động tham gia tiết học. Học sinh thường kể chuyện thiếu tự nhiên, kể như đọc văn bản hoặc ê a dừng lại quá lâu. 13

