Báo cáo Biện pháp Một số kinh nghiệm trong công tác quản lý dạy học theo mô hình trường học mới ở Trường THCS Trường Yên
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Biện pháp Một số kinh nghiệm trong công tác quản lý dạy học theo mô hình trường học mới ở Trường THCS Trường Yên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_bien_phap_mot_so_kinh_nghiem_trong_cong_tac_quan_ly.doc
Bìa.doc
Danh mục viết tắt.doc
Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Một số kinh nghiệm trong công tác quản lý dạy học theo mô hình trường học mới ở Trường THCS Trường Yên
- điều kiện đội ngũ, CSVC, đầu vào như nhau, nơi đâu quản lý tốt thì nơi đó có chất lượng tốt hơn. Chính từ nhận thức đó, trong những năm qua chúng tôi luôn coi trọng và đổi mới công tác quản lý trong nhà trường bằng nhiều biện pháp cụ thể trong từng năm học, Trong đó tập trung chủ yếu vào một số biện pháp: - Xây dựng kế hoạch năm học ngay từ đầu năm trong đó chú trọng đến các biện pháp cụ thể cho từng tháng, từng giai đoạn và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các đồng chí trong BGH, Tổ chuyên môn,... - Tham mưu với chính quyền địa phương, đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục để tăng cường CSVC- TBDH ngay từ đầu năm học. - Phân công GVCN lớp, giáo viên bộ môn trong năm học căn cứ vào năng lực, trình độ và nhiệm vụ cụ thể của từng năm. - Tích cực sinh hoạt tổ - nhóm chuyên môn, đổi mới kiểm tra đánh giá giáo viên và học sinh, ... Các giải pháp như đã nói ở trên qua nhiều năm chúng tôi thấy có nhiều ưu điểm và thực tế trong những năm gần đây chất lượng giáo dục của nhà trường có nhiều chuyển biến tích cực. Năm học Năm học Năm học 2012-2013 2013-2014 2014-2015 Xếp hạng thi vào lớp 10 THPT 54 24 33 trong tỉnh Số lượng HSG 3 8 24 cấp tỉnh Học sinh Số lượng HSG 40 54 78 Giỏi cấp huyện Xếp hạng trong 5 2 2 huyện Tuy nhiên từ thực tế quản lý chúng tôi thấy rằng các biện pháp trên vẫn còn nhược điểm và những tồn tại cần được khắc phục. Cụ thể là: - Việc xây dựng kế hoạch năm học đã dựa trên căn cứ là các chỉ thị về nhiệm vụ trọng tâm về bậc học của cấp trên, tuy nhiên việc tìm hiểu, nghiên cứu kĩ các văn bản này đôi lúc còn hình thức qua loa. Việc xây dựng kế hoạch năm học là việc làm thường xuyên, hằng năm do đó ở một vài nơi không tránh khỏi tình trạng sử dụng kế hoạch của các năm trước rồi chỉnh sửa ngày tháng, nội dung một số công việc, ... để được kế hoạch của năm học tiếp theo. 3
- - Hằng năm ngay từ hè, đầu năm học mới nhà trường đều làm tờ trình tham mưu với lãnh đạo địa phương để đầu tư, nâng cấp CSVC. Tuy nhiên do kinh phí địa phương còn hạn hẹp nên việc đầu tư bổ xung còn hạn chế. Mặt khác công tác xã hội hóa giáo dục mới chỉ dừng lại ở việc “kêu gọi” và còn “trông chờ” chưa có những biện pháp quyết liệt. - Việc phân công giáo viên chủ nhiệm, phân công chuyên môn căn cứ vào năng lực, trình độ của giáo viên; căn cứ vào đặc điểm, nhiệm vụ cụ thể của năm học, ... tuy nhiên về cơ bản là để các đồng chí giáo viên tiếp tục theo lên các lớp trên. Việc này có nhiều thuận lợi cho giáo viên như việc nắm chắc đặc điểm, tình hình của học sinh, theo sát chuyên môn của cả cấp học, ... nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều bất cập, khó khăn, chẳng hạn các đồng chí chuyên môn hạn chế sẽ gặp khó khăn ở lớp cuối cấp, việc bồi dưỡng học sinh giỏi sẽ không chuyên sâu, việc rút kinh nghiệm cuối mỗi năm học của bản thân không áp dụng được nhiều cho năm sau. - Việc sinh hoạt tổ - nhóm chuyên môn; Bồi dưỡng thường xuyên của giáo viên; Công tác kiểm tra nội bộ trường học hằng năm nhà trường đều có những chỉ đạo cụ thể, sát mới mục tiêu, kế hoạch năm học. Tuy nhiên việc sinh hoạt tổ - nhóm chuyên môn nhiều khi còn trùng lặp về nội dung, đôi lúc còn mang tính hình thức, việc kiểm tra của nhà trường đôi khi còn chưa kịp thời, trong khi một số giáo viên vẫn còn tư tưởng chủ quan cho rằng việc dạy học đã làm rất nhiều năm thành quen do đó việc bồi dưỡng thường xuyên bị xem nhẹ, Từ những tồn tại và hạn chế ở trên, đứng trước yêu cầu của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, trước xu thế phát triển của giáo dục, đào tạo. Đặc biệt, năm học 2015 - 2016 Trường THCS Trường Yên đã mạnh dạn đăng ký dạy thực nghiệm mô hình trường học mới đối với lớp 6 cấp THCS. Trong đó chúng tôi xác định ngay từ lãnh đạo nhà trường cần phải đổi mới và cải tiến một số giải pháp trong công tác quản lý để khắc phục các tồn tại, hạn chế đã nêu ở trên. 2. Giải pháp mới cải tiến Giải pháp 1: Chúng tôi đã chủ động nghiên cứu kỹ các văn bản, tài liệu chỉ đạo về mô hình trường học mới từ đó chủ động xây dựng kế hoạch của năm học. Chúng tôi ngoài việc nghiên cứu kĩ các văn bản chỉ đạo của cấp trên về GD- ĐT; Nhiệm vụ trọng tâm đối với GDTrH của Bộ GD-ĐT, Sở và phòng GD; ... mà chúng tôi còn chủ động tìm hiểu, nghiên cứu các văn bản, tài liệu của cấp trên về 4
- mô hình trường học mới; chủ động liên hệ làm việc với một số Trường Tiểu học đã áp dụng mô hình trường học mới để hiểu rõ được quan điểm chỉ đạo của cấp trên cũng như nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của các em học sinh lớp 5 từ đó xây dựng phương án tối ưu nhất cho đơn vị khi áp dụng mô hình đối với cấp THCS. Giải pháp 2: Nhà trường đã tổ chức cho 100% CBGV nhà trường dự đầy đủ các lớp tập huấn, hội thảo, chuyên đề cấp bộ, sở và cấp phòng về mô hình trường học mới. Tăng cường sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn. Việc tổ chức tập huấn cho CBGV trong năm học được thực hiện thường xuyên theo kế hoạch của cấp trên cũng như của mỗi đơn vị. Tuy nhiên đối với mô hình trường học truyền thống việc tập huấn, hội thảo, chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn đôi lúc nội dung còn trùng lặp, thời gian chưa hợp lý, tổ chức các buổi chuyên đề cho đủ số lượng mà chưa thực sự quan tâm tới chất lượng, hiệu quả, ... Khi áp dụng mô hình trường học mới ngay từ hè, trước khi bước vào năm học mới 2015-2016 nhà trường đã chọn lựa những đồng chí CBGV có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng tham gia tập huấn cấp bộ (tại Đà Nẵng; Hải Phòng và Nghệ An) theo yêu cầu từ đó những đồng chí này ngoài tham gia làm giảng viên cốt cán cấp tỉnh thì các đồng chí còn là những nhân tố quan trọng của nhà trường để thực hiện thành công mô hình trường học mới. Ngoài việc tham dự các lớp tập huấn cấp Bộ nhà trường còn tổ chức cho 100% GV trong toàn trường tập huấn cấp Sở về mô hình trường học mới, tham dự đầy đủ các buổi chuyên đề cấp sở của 07 đơn vị trường khác trong tỉnh cũng áp dụng mô hình. Tích cực, chủ động tổ chức chuyên đề, hội thảo áp dụng mô hình trường học mới cấp tỉnh. Trường THCS Trường Yên tổ chức chuyên đề cấp Sở: môn Sinh của KHTN và Địa của KHXH ngày 30/12/2015 được Sở GD-ĐT Ninh Bình, Phòng GD-ĐT Hoa Lư cũng như các đơn vị bạn đánh giá rất cao. Bên cạnh việc tham gia đầy đủ các buổi tập huấn, hội thảo, chuyên đề của cấp trên chúng tôi còn chú trọng đến việc sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn ngay tại nhà trường và cụm trường. Khi tổ chức sinh hoạt chuyên môn trong mô hình chúng tôi đã tập trung và hướng vào 6 nội dung với các chủ đề cụ thể: Đổi mới phương pháp dạy học; Đổi mới về đánh giá học sinh; Tổ chức và quản lý trong lớp học; Phối hợp giữa nhà trường và gia đình, cộng đồng; Điều chỉnh nội dung dạy học và phát triển tài liệu bồi dưỡng chuyên môn; 5
- Chia sẻ kinh nghiệm, sáng kiến sư phạm ở trường và cụm trường. Trong quá trình sinh hoạt chuyên môn tại tổ, nhóm chuyên môn yêu cầu giáo viên so sánh một số khác biệt cụ thể giữa dạy học trong mô hình mới và dạy học trong mô hình truyền thống. Bởi lẽ giữa mô hình THM và mô hình nhà trường truyền thống đã có sự khác biệt lớn về bản chất dạy học, về mục tiêu, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, về tài liệu dạy học, về vai trò của giáo viên và học sinh, ... Chẳng hạn: Mô hình nhà trường truyền thống Mô hình trường học mới - HS chủ yếu làm việc cá nhân; chủ - HS làm việc cá nhân kết hợp làm việc yếu nghe giảng, ghi nhớ, luyện tập theo theo cặp, theo nhóm; học qua hoạt mẫu. động, trải nghiệm, giao tiếp và tự phản hồi. - GV chủ yếu dạy học theo sách giáo - GV dựa theo tài liệu Hướng dẫn học khoa và sách hướng dẫn giáo viên; dạy để gợi mở, hỗ trợ, hướng dẫn học sinh theo số đông, đồng loạt, chủ yếu là tìm ra kiến thức; dạy theo cá thể, chấp truyền thụ một chiều. nhận khác biệt về tiến độ, tương tác đa chiều. - Quan tâm tới kết quả học cuối kỳ, - Quan tâm tới suốt quá trình học và đánh giá định kỳ thông qua bài kiểm cách học; đánh giá linh hoạt và thường tra định lượng. xuyên theo từng bài học. - Mối quan hệ GV/HS theo kiểu chỉ - Mối quan hệ giữa GV/HS và HS/HS huy, áp đặt một chiều từ trên xuống. mang tính hỗ trợ, hợp tác và hướng tới tinh thần xã hội. Hay sự khác nhau về quá trình dạy minh họa: Mô hình nhà trường truyền thống Mô hình trường học mới Người dạy: Thực hiện tiến trình bài Người dạy: Thực hiện hướng dẫn bài dạy theo nội dung kiến thức trong sách học linh hoạt theo nội dung đã điều giáo khoa. chỉnh và thực tế quá trình học sinh học tập. Người dự: Ngồi cuối lớp quan sát giáo Người dự: Tới từng nhóm học sinh viên dạy, xem có thực hiện đúng tiêu quan sát, đôi khi phỏng vấn trực tiếp chí đánh giá không. học sinh để có thêm nhận xét, đánh giá. Tóm lại: Việc sinh hoạt chuyên môn trong mô hình trường học mới, chúng tôi đã chỉ đạo: - Sinh hoạt chuyên môn không hàng chính, không hình thức, không lí luận cao siêu, hàn lâm xa vời thực tiễn; 6
- - Sinh hoạt chuyên môn trong mô hình nhằm vào những vấn đề cấp thiết, cần giải quyết thường xuyên trong mỗi tổ chuyên môn và trong nhà trường. - Sinh hoạt chuyên môn trong mô hình tập trung nhiều vào hoạt động dự giờ minh họa, chia sẻ kinh nghiệm đổi mới sư phạm. Giải pháp 3: Nhà trường tham mưu với Đảng ủy, HĐND, UBND xã đầu tư CSVC, tổ chức họp Phụ huynh HS khối 6, đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục để tăng cường các TBDH cho bốn lớp 6 áp dụng mô hình và đã được sự nhất trí và ủng hộ. Như chúng ta đều biết CSVC - TBDH trong nhà trường là điều kiện quan trọng để đạt mục tiêu giáo dục, Bởi vì có thiết bị dạy học tốt thì chúng ta mới có thể tổ chức được quá trình dạy học khoa học, huy động được đa số người học tham gia thực sự vào quá trình này, họ tự khai thác và tiếp nhận tri thức dưới sự hướng dẫn của người dạy một cách tích cực. Như vậy thì CSVC, thiết bị dạy học phải đủ và phù hợp mới triển khai được các phương pháp dạy học một cách hiệu quả. Do vậy cơ sở vật chất và thiết bị dạy học là bộ phận quan trọng của nội dung và phương pháp, chúng có thể vừa là phương tiện để nhận thức, vừa là đối tượng chứa nội dung cần nhận thức. Hiện nay CSVC - TBDH được xem như một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ Giáo dục - Đào tạo. Sự phát triển nhanh chóng của cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đã và đang tạo ra tiềm năng sư phạm to lớn cho việc dạy học có hiệu quả. Các phương tiện dạy học hiện đại đã đem lại chất lượng mới cho các phương pháp dạy học. Đặc biệt khi áp dụng mô hình trường học mới, ngoài việc tham mưu cho lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND xã Trường Yên bằng các văn bản, đặc biệt là những yêu cầu cần thiết về CSVC-TBDH khi áp dụng mô hình trường học mới ở lớp 6 bậc THCS, nhà trường còn quan tâm đến việc tuyên truyền cho cha mẹ học sinh và cộng đồng biết, hiểu và tin vào mô hình nhà trường mới. Tuyên truyền cho cộng đồng về trường học mới không phải trình bày những lý thuyết hàn lâm mà bằng những việc làm cụ thề, đó là: - Thứ nhất, Lãnh đạo nhà trường và CBGV đặc biệt là GVCN phải hiểu rõ đặc điểm cơ bản, tính ưu việt của trường học mới và niềm tin vào mô hình trường học mới. Chỉ khi nào chúng ta hiểu rõ và có niềm tin thì mới thuyết phục cha, mẹ học sinh và cộng đồng tin vào mô hình. 7
- - Thứ hai, yêu cầu GVCN tổ chức một số hoạt động của lớp và mời cha mẹ học sinh, đại diện cộng đồng đến dự các hoạt động (dự buổi bầu Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐTQ; dự buổi sinh hoạt lớp; làm đồ dùng dạy học; ...) mục đích để cha mẹ học sinh và cộng đồng chứng kiến không khí dân chủ, năng lực tự quản, tự điều hành của học sinh; - Thứ ba, mời cha mẹ học sinh và cộng đồng tham gia xây dựng góc cộng đồng, góc học tập, ... cùng với học sinh. Cha mẹ cùng học sinh và giáo viên làm đồ dùng học tập, xây dựng công cụ hỗ trợ học tập trong lớp học, ... - Thứ tư, mời cha mẹ học sinh dự giờ lớp học mô hình THM; cùng với nhà trường tổ chức các câu lạc bộ, tham quan, dã ngoại, giáo dục truyền thống, văn hóa lịch sử địa phương; - Thứ năm, mời các nghệ nhân, doanh nhân, lãnh đạo các đoàn thể giáo dục truyền thống quê hương, ngành – nghề truyền thống, kinh nghiệm sản xuất cho học sinh tại nhà văn hóa, trang trại, cơ sở sản xuất của địa phương. Thông qua những việc làm trên các cấp lãnh đạo địa phương, cha mẹ học sinh và cộng đồng chứng kiến niềm vui của con trẻ, chứng kiến khả năng và trưởng thành của con trẻ, thấy rõ trách nhiệm của mình hơn. Chúng tôi nhận thấy đó chính là cách tuyên truyền hiệu quả nhất của mô hình trường học mới đối với cộng đồng để từ đó họ có những đầu tư, tài trợ về CSVC-TBDH thiết thực cho nhà trường. Năm học 2015 - 2016, chúng tôi cũng đã mạnh dạn cải tiến trong việc xã hội hóa công tác giáo dục, xin các nguồn tài trợ, đó không chỉ là “kêu gọi” và “trông chờ” như mọi năm mà chúng tôi đã mạnh dạn làm tờ trình xin ý kiến lãnh đạo địa phương đồng thời mời các đồng chí lãnh đạo địa phương cùng chúng tôi đến tận doanh nghiệp để vận động và thực tế chúng tôi đã thành công khi cùng các đồng chí lãnh đạo địa phương khi đến doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường (Doanh nghiệp Xuân Trường tài trợ toàn bộ bàn ghế lớp trị giá khoảng 200 triệu đồng). Kết quả năm học 2015-2016 khi áp dụng thực nghiệm mô hình trường học mới nhà trường đã nhận được rất nhiều sự đầu tư của lãnh đạo địa phương, sự ủng hộ và tài trợ của phụ huynh học sinh, các doanh nghiệp và cộng đồng. Cụ thể là: Stt Tên công việc Số tiền Ghi chú 1 Lăn sơn 5 phòng học 25.000.000 Ngân sách xã 2 Quét vôi ve tường bao 5.000.000 Ngân sách xã San lấp nền, đổ bê tông đường chạy 3 10.000.000 Ngân sách xã thể dục 8
- Hàn thêm sắt vào các cửa 4 lớp học 4 15.000.000 Ngân sách xã để chống trộm. 04 máy chiếu lắp tại lớp học ; hệ Quà tài trợ của các 5 58.659.000 nhà hảo tâm xã thống Camera ở 4 lớp 6 Trường Yên Bàn ghế 4 lớp 6 theo đúng thông tư Tài trợ của doanh 6 200.000.000 26/BGD&ĐT nghiệp Xuân Trường 7 Lắp rèm lớp học 12.000.000 Phụ huynh lớp Trang trí bảng biểu, góp sách xây Học sinh các lớp 6 và 8 10.464.000 HS toàn trường góp dựng thư viện lớp theo mô hình... công, góp sách... 9 Mua 4 bảng chống lóa Hàn Quốc 10.000.000 Nhà trường Mua sách giáo khoa, sách tham khảo nhập thư viện, trang thiết bị đệm nhảy 10 TDTT, vật tư thí nghiệm, chi công tác 35.000.000 Nhà trường phí cho CBGV tập huấn cấp Bộ, cấp Sở... Tổng cộng 381.123.000đ (Bằng chữ: Ba trăm tám mốt triệu một trăm hai mươi ba ngàn đồng chẵn ) Giải pháp 4: Phân công GV chủ nhiệm, phân công chuyên môn hợp lý chú trọng các GV trẻ, các đồng chí đã tham gia tập huấn cấp bộ, cấp sở, các đồng chí năng động, nhiệt tình, có năng lực chuyên môn tốt tiếp cận với mô hình trường học mới để dạy lớp 6. Thực tế đội ngũ giáo viên nhà trường có những điểm mạnh là được đào tạo khá cơ bản, có kiến thức chuyên môn khá vững vàng, nhiệt tình công tác,... Bên cạnh đó một số đồng chí hiện nay còn bộc lộ một số hạn chế như: phương pháp giảng dạy vẫn sử dụng chủ yếu là phương pháp cổ điển, một số đồng chí lớn tuổi sức ì cao, một số có tính bảo thủ ngại tiếp thu và tiếp cận cái mới, một số đồng chí giáo viên trẻ thì kiến thức về phương pháp chưa sâu, kĩ năng thiết kế tổ chức và sử dụng tình huống giảng dạy còn chưa linh hoạt. Từ những nhận định trên và căn cứ vào nhiệm vụ của năm học, chúng tôi cùng với các đồng chí tổ trưởng chuyên môn đã bàn bạc và thống nhất cao khi phân công các đồng chí giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn khối 6 (đối tượng áp dụng mô hình trường học mới) là các đồng chí GV trẻ, giáo viên cốt cán đã tham gia tập huấn cấp bộ, cấp sở, năng động, nhiệt tình, có năng lực chuyên môn tốt tiếp cận với mô hình trường học mới. 9
- Thực tế qua gần một năm chúng tôi nhận thấy các đồng chí giáo viên này đã thể hiện tốt vai trò của người giáo viên đó là: tổ chức, điều khiển, thúc đẩy, gợi mở, xúc tác, trợ giúp, hướng dẫn, tìm tòi, động viên, cố vấn, trọng tài, trong các hoạt động học tập độc lập của học sinh. Đánh thức năng lực, tiềm năng trong mỗi em, chuẩn bị tốt cho các em tham gia hòa nhập cộng đồng và tạo ra phong cách học tập suốt đời sau này. Giải pháp 5: Nhà trường thường xuyên tổ chức kiểm tra, đánh giá học sinh, khảo sát tâm lý, phỏng vấn HS các bài kiểm tra Test với HS và GV dạy học theo mô hình để điều chỉnh phương pháp phù hợp. Trong nhà trường hiện nay, việc dạy học không chỉ chủ yếu là dạy cái gì mà còn dạy học như thế nào. Đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu cấp bách có tính chất đột phá để nâng cao chất lượng dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ đổi mới từ nội dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy học cho đến kiểm tra đánh giá kết quả dạy học. Kiểm tra đánh giá có vai trò rất to lớn đến việc nâng cao chất lượng đào tạo. Kết quả của kiểm tra đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và quản lý giáo dục. Nếu kiểm tra đánh giá sai dẫn đến nhận định sai về chất lượng đào tạo gây tác hại to lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực. Vậy đổi mới kiểm tra đánh giá trở thành nhu cầu bức thiết của ngành giáo dục và toàn xã hội ngày nay. Kiểm tra đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp người học tự tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập. Việc đánh giá kết quả của học sinh theo mô hình trường học mới căn cứ vào Công văn 4669/BGDĐT- GDTrH ngày 10 tháng 9 năm 2015 của Bộ GD-ĐT về việc Hướng dẫn đánh giá học sinh THCS theo mô hình trường học mới. Qua gần một năm thực hiện việc đánh giá này chúng tôi nhận thấy: - Việc đánh giá đã hướng tới sự phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh thông qua mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ và các biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh dựa trên mục tiêu giáo dục THCS; coi trọng đánh giá để giúp đỡ học sinh về phương pháp học tập. 10
- - Chú trọng đánh giá thường xuyên, đa dạng hóa các hình thức và công cụ đánh giá như: đánh giá các hoạt động trên lớp; đánh giá qua hồ sơ học tập, vở học tập; đánh giá qua việc học sinh báo cáo kết quả thực hiện dự án học tập, nghiên cứu khoa học, kĩ thuật, ... kết hợp đánh giá trong quá trình dạy học, giáo dục và đánh giá tổng kết cuối kì, cuối năm học. Kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh, đánh giá của cha mẹ học sinh và cộng đồng. - Việc đánh giá định kỳ được áp dụng với tất cả các môn học thông qua các bài kiểm tra. Các bài kiểm tra giữa và cuối học kì I, giữa học kì II và cuối năm học nhằm giúp cho giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh đánh giá được kết quả học tập của học sinh và “nhìn lại” quá trình đánh giá thường xuyên trước đó. Ngoài việc đánh giá kết quả của học sinh theo mô hình trường học mới căn cứ vào Công văn 4669/BGDĐT- GDTrH ngày 10 tháng 9 năm 2015 của Bộ GD- ĐT, nhà trường định kỳ còn khảo sát tâm lý, phỏng vấn HS, có các bài kiểm tra Test với HS và GV dạy học theo mô hình để điều chỉnh phương pháp quản lý cho phù hợp đồng thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh để động viên khích lệ; phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh để hướng dẫn, giúp đỡ. Tóm lại: Đánh giá học sinh THCS mô hình trường học mới được hiểu là những hoạt động quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; tư vấn, hướng dẫn, động viên học sinh; nhận xét định tính hoặc định lượng về kết quả học tập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất của học sinh THCS. V. Hiệu quả kinh tế và xã hội dự kiến đạt được 1. Hiệu quả kinh tế: + Năm học 2015 – 2016: Nhà trường đã được đầu tư, tăng cường CSVC-TBDH rất nhiều (khoảng 381.123.000đ) (Biểu mẫu trong phần giải pháp 3) + Dự kiến các năm học tiếp theo: Khi các nhà trường trong huyện và tỉnh áp dụng đồng loạt mô hình THM thì với những kinh nghiệm của chúng tôi hy vọng các nhà trường sẽ tích cực tham mưu cho Đảng, chính quyền để đầu tư CSVC cho các nhà trường với số tiền (dự kiến) hàng ngàn tỷ đồng. 2. Hiệu quả xã hội: 11
- - Sáng kiến tuy mới chỉ áp dụng được gần một năm tại trường, tuy nhiên chúng tôi nhận thấy nó đã mang lại một hiệu quả xã hội to lớn, đó là: Nâng cao chất lượng thực sự của cán bộ quản lí và giáo viên thông qua tự học, tự nghiên cứu, thông qua việc tìm hiểu trên các Web, Email và kết nối mạng; Tăng cường học hỏi đồng nghiệp qua dự giờ thăm lớp, trao đổi chuyên môn trong phạm vi nhà trường, trong huyện, tỉnh và toàn quốc (qua Trường học kết nối); Cha mẹ học sinh và cộng đồng đã chủ động, có trách nhiệm cùng tham gia hỗ trợ trong các hoạt động giáo dục của nhà trường. - Học tập theo mô hình VNEN giúp học sinh phát huy tính tự học, sáng tạo, tính tự giác, tự quản, sự tự tin, hứng thú trong học tập. Với phương pháp dạy học mới, giúp các em phát huy tốt các kĩ năng: Kỹ năng giao tiếp, Kỹ năng hợp tác, Kỹ năng tự đánh giá lẫn nhau trong giờ học VI. Điều kiện và khả năng áp dụng Với sáng kiến: “Một số kinh nghiệm trong công tác quản lý dạy học theo mô hình trường học mới ở Trường THCS Trường Yên” chúng tôi thấy rằng sáng kiến có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đổi mới hoạt động dạy - học và tin tưởng rằng nó có rất nhiều điều kiện và khả năng áp dụng cho các cấp quản lí, các đồng chí cán bộ quản lí của các nhà trường trong huyện, trong tỉnh và trên toàn quốc. Bởi lẽ, năm học 2015 – 2016 mới là năm thứ 2 cả nước thực nghiệm mô hình trường học mới cấp THCS mà Ninh Bình mới là năm đầu tiên thực nghiệm ở 8 trường THCS/8 huyện, thành phố (Năm học 2014 – 2015 chỉ có 6 tỉnh thực nghiệm mô hình ở 48 lớp 6 của 24 Trường THCS). Trường Yên, ngày 24 tháng 5 năm 2016 Xác nhận của cơ quan PGD Tác giả sáng kiến Trần Quyết Thắng Nguyễn Thị Bích Phượng Phạm Hùng Thiện Trần Trung Kiên 12
- PHỤ LỤC 1: Nội dung sáng kiến I. PHẦN THỨ NHẤT MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành TW Đảng khoá 7 đã chỉ rõ: “Trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, những chính sách, giải pháp đúng trong phát triển giáo dục và đào tạo phải hướng tới hình thành một nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá trong thời đại ngày nay. Đó là một nguồn nhân lực bao gồm những người có đức, có tài, ham học hỏi, thông minh sáng tạo, làm việc quên mình vì nền độc lập và sự phồn vinh của Tổ quốc, được chuẩn bị tốt kiến thức văn hoá, được đào tạo thành thạo về kĩ năng nghề nghiệp, về năng lực quản lí sản xuất kinh doanh, điều hành vĩ mô kinh tế và toàn xã hội, có trình độ khoa học kĩ thuật vươn lên ngang tầm thế giới”. Tại hội nghị lần thứ 2, BCH Trung ương Đảng khoá VIII đã khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp Giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học”. Và gần đây ngày 4/11/2013 Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XI đã có nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục: Mục tiêu tổng quát: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả. Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.” 13

