Báo cáo Biện pháp Một số kinh nghiệm rèn đọc diễn cảm cho học sinh Lớp 4B trường Tiểu học Ngọc Phụng 1, huyện Thường Xuân

doc 18 trang Chăm Nguyễn 01/07/2025 610
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Biện pháp Một số kinh nghiệm rèn đọc diễn cảm cho học sinh Lớp 4B trường Tiểu học Ngọc Phụng 1, huyện Thường Xuân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docbao_cao_bien_phap_mot_so_kinh_nghiem_ren_doc_dien_cam_cho_ho.doc

Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Một số kinh nghiệm rèn đọc diễn cảm cho học sinh Lớp 4B trường Tiểu học Ngọc Phụng 1, huyện Thường Xuân

  1. Để phát huy tầm quan trọng của phân môn Tâp đọc và để đạt được mục tiêu môn học, mỗi giáo viên cần hiểu sâu sắc mục đích của môn học, bài học, nhận thức rõ phương pháp giảng dạy của phân môn. Để nâng cao chất lượng phân môn Tập đọc cho học sinh khối 4 nói chung và cho học sinh lớp 4B do tôi phụ trách nói riêng là một vấn đề vô cùng quan trọng. Đối với học sinh các em còn nhỏ, trong lớp có nhiều em gia đình còn nghèo, cha mẹ ít quan tâm đến việc học hành của con em mình, hầu như phó mặc cho cô giáo và nhà trường. Vì thế tôi rất trăn trở đối với việc nâng cao chất lượng về vấn đề nói trên. Chính vì vậy, tôi đã suy nghĩ, trăn trở và chọn đề tài nghiên cứu: “Một số kinh nghiệm rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4B trường Tiểu học Ngọc Phụng 1, huyện Thường Xuân”. 1.2. Mục đích nghiên cứu : Nhằm giúp học sinh biết đọc diễn cảm, cảm thụ được cái hay, cái đẹp của tiếng Việt. Từ đó các em có thêm lòng ham muốn, tinh thần hăng say khi học phân môn Tập đọc nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung. Giúp học sinh có điều kiện học tốt hơn phân môn Tập đọc góp phần nâng cao chất lượng học tập của lớp đáp ứng yêu cầu của nhà trường. Củng cố cho giáo viên kĩ năng trình bày tốt văn bản nói cũng như văn bản viết, tạo điều kiện để giáo viên tìm tòi, học hỏi, cảm thụ sâu sắc cái hay, cái đẹp của Tiếng Việt; vốn hiểu biết về Tiếng Việt tạo tiền đề cho giáo viên dạy tốt môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập đọc nói riêng. Mong muốn được đóng góp một số kinh nghiệm nhỏ của mình cho đồng nghiệp, trong việc rèn đọc diễn cảm cho học sinh cho học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy- học phân môn Tập đọc, giúp học sinh học tốt hơn môn Tiếng Việt và các môn học khác. 1.3. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài đó là những kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4. 1.4. Phương pháp nghiên cứu : Tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: nghiên cứu các tài liệu liên quan đến rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4. - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn. + Phương pháp quan sát sư phạm . + Phương pháp điều tra viết. + Phương pháp phỏng vấn. - Phương pháp sử dụng thống kê. + Phân tích tổng hợp thống kê, xử lí kết quả. 2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm : 2.1.1 Mục tiêu của phân môn Tập đọc ở sách Tiếng Việt 4. Phân môn Tập đọc lớp 4 tiếp tục củng cố và nâng cao kĩ năng đọc một cách đầy đủ, toàn diện cho học sinh nhằm hoàn thiện yêu cầu cần đạt ghi trong Chương trình Tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành: Đọc rành mạch, 3
  2. lưu loát bài văn( khoảng 120 tiếng/ phút); đọc có biểu cảm bài văn, bài thơ ngắn; hiểu nội dung, ý nghĩa của bài đọc. Cụ thể: - Củng cố, phát triển kĩ năng đọc trơn, đọc thầm đã được hình thành ở các lớp dưới; tăng cường tốc độ đọc, khả năng đọc lướt để chọn thông tin nhanh; khả năng đọc diễn cảm. - Phát triển kĩ năng đọc - hiểu lên mức cao hơn: nắm và vận dụng được một số khái niệm như đề tài, cốt truyện, nhân vật, tính cách,... để hiểu ý nghĩa của bài và phát hiện một vài giá trị nghệ thuật trong các bài văn, bài thơ. - Mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người để góp phần hình thành nhân cách của con người mới. 2.1.2. Nội dung, cấu trúc phân môn Tập đọc lớp 4. Phân môn Tập đọc ở lớp 4 gồm 62 bài tập đọc. 45 bài văn xuôi thuộc loại hình nghệ thuật, báo chí, khoa học, 1 vở kịch ( trích), 17 bài thơ.( có hai bài thơ ngắn dạy trong 1 tiết) Các bài Tập đọc gồm các chủ đề: " Thương nguời như thể thương thân" măng mọc thẳng", " Trên đôi cánh ước mơ", "Có chí thì nên","Tiếng Sáo diều", "Người ta là hoa đất", "Vẻ đẹp muôn màu", "Những người quả cảm", "Khám phá thế giới” "Tình yêu cuộc sống”. Bài Tập đọc lớp 4 nhằm mục đích: - Tiếp tục củng cố và nâng cao kĩ năng đọc cho học sinh: đọc trơn, đọc thầm với tốc độ nhanh hơn, nâng cao kĩ năng đọc diễn cảm. Từ đó giúp các em hiểu sâu hơn nội dung, ý nghĩa của văn bản. - Mở rộng vốn hiểu biết, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, nhân cách cho HS. Các bài đọc gồm các phần: văn bản đọc, chú giải những từ ngữ khó, hướng dẫn đọc (chỉ dẫn cách đọc một số câu khó, đoạn khó, cách ngắt nhịp, nhấn giọng hoặc gợi ra những đặc điểm về nội dung, những sắc thái tình cảm được biểu hiện qua giọng đọc). Phần tìm hiểu bài gồm những câu hỏi, bài tập giúp học sinh hiểu giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bài văn, bài thơ. Ở nhiều bài có thêm yêu cầu học thuộc lòng từng đoạn, cả bài. 2.1.3. Vị trí, vai trò của phân môn Tập đọc trong Tiếng Việt. Môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Đọc không chỉ là công việc giải quyết một bộ mã gồm hai phần chữ viết và âm thanh, nghĩa là nó không phải chỉ là sự "đánh vần" lên thành tiếng theo đúng như các ký hiệu chữ viết, mà đọc còn là quá trình nhận thức để có khả năng hiểu đọc những gì đã được đọc. Tập đọc là cách học văn bản từ đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, đọc diễn cảm. Dạy Tập đọc chính là việc giáo viên hướng dẫn hoàn thành 4 kĩ năng trên. Tập đọc giúp trẻ chiếm lĩnh được ngôn ngữ trong giao tiếp và học tập, nó cũng là công cụ để học các môn khác, nó tạo ra hứng thú và động cơ trong học tập. Đồng thời nó tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học. Đọc là khả năng không thể thiếu được của con người. Trong thời đại văn minh, biết đọc sẽ giúp các em hiểu biết nhiều hơn, hướng các em tới cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết tư duy. Trong thực tế mỗi bài tập đọc gồm có hai phần lớn: tìm hiểu nội dung và luyện đọc. Hai phần này có thể cùng tiến hành một lúc đan xen vào nhau hoặc cũng có thể dạy tách hai phần tùy theo từng bài mà giáo viên lựa chọn. Dù dạy 4
  3. theo cách nào thì hai phần này cũng luôn có mối quan hệ tương hỗ khăng khít với nhau. Phần tìm hiểu bài giúp cho HS hiểu kĩ nội dung, nghệ thuật của bài, từ đó các em đọc diễn cảm tốt hơn. Ngược lại, học sinh đọc hay, đọc diễn cảm để thể hiện tốt nội dung của bài, thể hiện những điều hiểu biết xung quanh bài đọc. Như vậy, việc rèn kỹ năng đọc diễn cảm trong dạy Tập đọc rất quan trọng góp phần giúp học sinh biết cách xác định ngữ điệu từng loại văn bản, làm giàu vốn kiến thức ngôn ngữ và kiến thức văn học cho học sinh, từ đó góp phần hình thành ở các em ý thức được cách đọc nhằm diễn tả nội dung một cách tốt nhất. Để bài dạy đạt kết quả cao, cần quan tâm đến cách tổ chức và lôgíc các nội dung bài trong giờ học không bị ngắt quãng, gián đoạn. Giáo viên phải lấy học sinh làm trung tâm. Vai trò của giáo viên trong mỗi tiết học chỉ là người tổ chức, dẫn dắt học sinh tự tìm ra tri thức. Ngoài ra, để phần tìm hiểu bài tiến hành được tốt thì cần phải có yếu tố như: cơ sở vật chất đầy đủ, tranh ảnh minh hoạ cho bài tập đọc phải đẹp, phong phú và cuối cùng là trình độ giáo viên phải đáp ứng được yêu cầu của môn học. Nếu phối hợp được các yếu tố nói trên, sẽ giúp học sinh hiểu bài nhanh và sâu, hiểu một cách có hệ thống và làm tăng hiệu quả giờ học. Các em hứng thú học, thích học tiếng Việt, biết yêu cuộc sống qua từng bài học. Từ những hiểu biết của mình về phân môn Tập đọc nói chung và rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 4 nói riêng, tôi đã suy nghĩ tự đặt ra cho mình phải nhận thức được tầm quan trọng của phân môn. Đặc biệt quan tâm nhiều đến việc rèn đọc diễn cảm cho học sinh với những yêu cầu đề ra. Thực tế, tôi luôn luôn tìm tòi nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của lớp người đi trước, để tìm ra phương pháp giảng dạy, truyền thụ kiến thức và đặc biệt cách rèn đọc diễn cảm cho các em. Muốn rèn đọc diễn cảm tốt, trước hết trong các giờ Tập đọc, học sinh phải nắm được nội dung, phong cách văn bản của bài đọc. Mức độ đọc diễn cảm tỉ lệ thuận với mức độ hiểu bài của học sinh. Qua hệ thống từ ngữ, kiểu câu, bố cục, thể loại văn bản ... các em cảm thụ sâu sắc văn bản (bài văn, bài thơ) từ đó giúp các em đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm văn bản nghệ thuật, đọc đúng ngữ điệu các văn bản có mục đích thông báo khác. Đọc diễn cảm (đọc hay) là biết thể hiện kĩ thuật đọc phù hợp với từng bài như: ngắt nhịp đúng câu văn, câu thơ, thể hiện được nội dung bài đọc bằng sắc thái giọng đọc vui, buồn, trầm, bổng, gợi cảm, nhẹ nhàng, thiết tha hay mạnh mẽ, dứt khoát, tốc độ chậm rãi, khoan thai hay dồn dập... Ngoài ra, cần biết thể hiện đúng các kiểu câu như: câu hỏi, câu kể, câu cảm... Biết phân biệt giọng đọc của các nhân vật, của người dẫn chuyện trong bài. Học sinh bước đầu làm chủ được giọng đọc sao cho vừa đúng về ngữ điệu, về tốc độ, cao độ, trường độ và âm sắc; vừa thể hiện cảm nhận riêng của từng cá nhân nhằm diễn tả đúng nội dung đọc. 2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. 2.2.1. Những việc đã làm được: - Nhà trường đã tổ chức coi, chấm thi kiểm tra định kì một cách nghiêm túc, đánh giá một cách chính xác chất lượng các môn học nói chung và phân môn Tập đọc nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Tập đọc trong nhà trường. 5
  4. - Dưới sự chỉ đạo của Ban Giám hiệu nhà trường, các tổ khối đã tổ chức cho giáo viên của tổ mình thi đọc hay một cách có hiệu quả, nhằm củng cố, nâng cao hiểu biết về tầm quan trọng của phân môn Tập đọc nói chung và đọc diễn cảm nói riêng. Từ việc làm này đã giúp cho giáo viên phần nào nắm vững hơn phương pháp dạy phân môn Tập đọc. - Mỗi giáo viên đều tìm tòi, học hỏi, đổi mới phương pháp giảng dạy phân môn Tập đọc và đã chú trọng đến việc đọc diễn cảm của học sinh, đặc biệt chú trọng hơn về vấn đề này đối với học sinh lớp 4; đã khắc phục được tình trạng đọc ê a... ngắc ngứ, ngắt nghỉ chưa đúng và phát âm sai ở nhiều học sinh; đã tổ chức cho các em thi đọc diễn cảm trong nhóm và trước lớp, giúp các em học tốt hơn phân môn Tập đọc nói riêng, môn Tiếng Việt nói chung. - Hầu hết các em học sinh đều nêu cao ý thức rèn đọc cho mình, đặc biệt là đọc diễn cảm. Nhiều HS biết đọc diễn cảm, đọc hay, ham mê học tiếng Việt. Chất lượng môn Tập đọc ngày một được nâng lên một cách rõ rệt. 2.2.2. Những việc chưa làm được: Qua thực tế giảng dạy ở lớp 4, tôi thấy việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh có một số vấn đề như sau: Về phía giáo viên: Đối với đa số giáo viên, Tập đọc không phải là phân môn khó dạy. Hầu hết trong số họ đều có nhiều cố gắng trong việc tìm tòi phương pháp, nghiên cứu nội dung, học hỏi kinh nghiệm, đặc biệt có đổi mới phương pháp giảng dạy “Lấy học sinh làm trung tâm” song kết quả cho thấy học sinh chưa đọc được hay (đọc diễn cảm) bài đọc. Bởi trong khi dạy, giáo viên thường mới chỉ coi trọng và sửa cho học sinh vấn đề đọc to, rõ ràng, lưu loát chứ chưa quan tâm nhiều đến kĩ thuật đọc, giọng đọc, cách đọc diễn cảm của học sinh hay việc đọc mẫu của giáo viên. Giáo viên dạy Tập đọc như dạy Văn trước đây. Nhìn chung phương pháp còn mang tính chất hưởng thụ và áp đặt (về cách hiểu nội dung bài, cách đọc bài). Giáo viên giảng giải quá nhiều về các từ khó, về ý nghĩa của bài mà xem nhẹ phần luyện đọc, đặc biệt là luyện đọc diễn cảm. Bên cạnh đó, do khách quan, một số giáo viên không có chất giọng tốt để đọc hay bài đọc. Giáo viên Tiểu học lại dạy quá nhiều môn trong một buổi học nên việc đầu tư thời gian để luyện đọc trước khi lên lớp còn có phần hạn chế... Về phía học sinh: Học sinh không quan tâm đến phương pháp đọc của mình, do đó các em rất yếu về năng lực di chuyển kĩ năng đọc đã được hình thành ở các lớp trước, các bài trước để giải quyết những vấn đề đặt ra trong bài mới. Các em đã đọc thành tiếng, phát âm đúng và rõ các tiếng có vần khó. Nhưng đọc để thể hiện nội dung bài đọc thì còn thấp. Khi đọc, nhiều em chưa hiểu ý của từng đoạn, từng bài, các em ngắt nghỉ câu văn, ngắt nhịp câu thơ chưa chính xác, vẫn còn hiện tượng đọc ê a..., ngắc ngứ, phát âm sai, chưa thể hiện được nội dung và tình cảm bài đọc bằng sắc thái giọng đọc vui, buồn, trầm, bổng, gợi cảm... Kĩ năng đọc lướt để tìm hiểu nội dung bài chưa tốt ở đa số các em. Ảnh hưởng của phương ngữ: tình trạng phát âm lẫn giữa các tiếng có thanh ngã và thanh hỏi, các tiếng có nguyên âm đôi... còn nặng nề. Do đặc điểm vùng miền, kinh tế ở gia đình chưa cao nên các em chưa được tạo điều kiện tốt để học tập. 6
  5. Ngay từ đầu năm học 2016 – 2017, tôi đã tiến hành khảo sát hai lớp 4A và 4B, tôi thấy số lượng học sinh đã biết đọc diễn cảm bài văn, bài thơ rất ít, nhất là đối với những học sinh có lực học hoàn thành hay hoàn thành tốt. Cụ thể điều tra chất lượng đọc của HS hai lớp 4 đầu năm học này có số liệu cụ thể như sau: Lớp 4B đầu năm học 2016- 2017 ( lớp do tôi phụ trách): Sĩ Học sinh đọc nhỏ, chậm Học sinh đọc to, lưu loát Học sinh đọc diễn cảm số 25 12 HS =48 % 12 HS = 48 % 1 HS = 4 % - Lớp 4A đầu năm học 2016 - 2017: Sĩ số Học sinh đọc nhỏ, chậm Học sinh đọc to, lưu loát Học sinh đọc diễn cảm 20 8 HS = 40 % 10 HS = 50% 2 HS = 10 % Nhìn vào bảng thống kê cho ta thấy, tỉ lệ học sinh đọc diễn cảm ỏ lớp 4A cao hơn lớp 4B. Số lượng học sinh đọc còn nhỏ, chậm ở lớp 4B còn nhiều hơn lớp 4A. Để nâng cao chất lương đọc diễn cảm, tôi đã áp dụng những giải pháp và biện pháp như sau: 2.3. Các giải pháp và biện pháp thực hiện để nâng cao kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4. 2.3. 1. Các giải pháp: Sau khi được phân công chuyên môn, việc làm đầu tiên là tôi cho lớp ổn định mọi nề nếp tổ chức. Sau đó đi sâu, đi sát để nắm được từng đối tượng HS về lực học, về hoàn cảnh gia đình, đặc biệt là về khả năng đọc, kĩ năng đọc và phân loại học sinh theo 3 đối tượmg: * Đối tượng 1: Học sinh đọc chậm nhỏ. * Đối tượng 2: Học sinh biết đọc to, lưu loát. * Đối tượng 3: Học sinh biết đọc diễn cảm. Căn cứ vào đó, tôi đã tiến hành sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh, những em đọc yếu ngồi cạnh những em đọc khá, đọc tốt để các em có điều kiện giúp đỡ nhau, rèn luyện bổ sung cho nhau qua quá trình luyện đọc theo cặp đôi và theo nhóm bàn để các em cùng tiến bộ. Công việc tiếp theo là giới thiệu với học sinh về cấu trúc chương trình phân môn để các em nắm được các chủ điểm chính trong từng học kỳ và trong cả năm học. Đặc biệt tôi đã nêu tầm quan trọng, yêu cầu kỹ năng cơ bản về việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm. Hướng dẫn học sinh lưu lại những câu, đoạn văn, đoạn thơ, bài văn, bài thơ hay trong sổ tay của mình, giao trách nhiệm cho một số em đọc khá, đọc tốt thường xuyên kèm cặp giúp đỡ những em đọc yếu ở mọi bài học, mọi môn học chứ không chỉ dừng lại ở phần đọc theo cặp đôi hay đọc theo nhóm, đọc phân vai... 2.3.2. Các biện pháp thực hiện. Biện pháp 1: Khắc phục tình trạng đọc sai những tiếng có phụ âm đầu hay nhầm lẫn s – x ; ch – tr; d – r- gi ; tiếng có dấu thanh hay nhầm lẫn: thanh ngã/ thanh hỏi. Những tiếng, những từ này thường là những từ khó đối với HS . Cho nên, trong bước rèn đọc đúng cho HS, tôi cho các em đọc thầm toàn bài để tự phát 7
  6. hiện ra những tiếng, từ mà HS cảm thấy khó có trong bài. Trong thực tế, nhiều khi giáo viên quá phụ thuộc vào sách hướng dẫn mà ép học sinh phải chỉ ra những từ khó giống như trong sách nêu ra là không nên bởi những từ đó với HS có thể chưa phải là khó. Song từ, tiếng khó đọc mà tự các em phát hiện ra có thể là rất nhiều. Do vậy, giáo viên cần kết hợp với việc quan sát theo dõi của mình trong tất cả các giờ học để thấy HS lớp mình hay nhầm lẫn ở những cặp phụ âm nào, vần nào, tiếng nào để tập trung rèn cho các em những tiếng khó, từ khó ở các loại đó. Ví dụ: Ở lớp tôi ngay từ khi mới nhận lớp, qua theo dõi trong các tiết học và trong khi giao tiếp với học sinh tôi thấy các em còn hay nhầm lẫn khi phát âm: Các lỗi Nguyên âm đôi x/ s ch/ tr d/ r/ gi Thanh ngã/ Thanh hỏi Tỷ lệ mắc lỗi 55% 45% 55% 55% 70% Tôi thấy đây không chỉ là những lỗi của các em khi đọc, khi nói mà cả nhân dân địa phương nơi đây cũng hay nhầm lẫn như vậy. Do vậy, trong một giờ học, một tuần học, thậm chí cả một tháng ta cũng không thể sửa ngay cho các em tất cả các loại lỗi. Những lỗi mà tỷ lệ học sinh mắc ít hơn và cũng dễ sửa hơn tôi đặt ra cho mình kế hoạch sẽ tiến hành rèn cho các em liên tục trong 8 tuần đầu (Đó là những cặp phụ âm s/x, ch/ tr, d/ r/ gi ). Còn những lỗi khó sửa hơn (lỗi nguyên âm đôi; thanh ngã/ thanh hỏi) tỷ lệ HS mắc lỗi nhiều hơn, tôi đặt ra cho mình kế hoạch rèn cho các em liên tục trong 3 tháng nhưng sau đó phải thường xuyên rèn trong khi nói, khi đọc và khi viết, có như thế mới trở thành thói quen nói đúng, viết đúng được. - Cách tiến hành rèn đọc đúng cho học sinh của tôi như sau: + Mục đích phần rèn đọc của bài “Dế Mèn bênh vực kẻ yếu”( TV 4, tập 1, tr.15) tôi sẽ tập trung rèn HS đọc đúng những tiếng có phụ âm đầu s/ x. + Sau khi nghe HS Hoàn thành tốt đọc mẫu lần 1, tôi yêu cầu cả lớp đọc thầm toàn bài (kết hợp với việc dặn học sinh chuẩn bị bài ở nhà) tìm ra những từ, tiếng khó đọc có trong bài. Sau đó cho HS nêu ra, tôi lần lượt ghi lên bảng theo các dòng riêng biệt. Ví dụ: HS tìm được các từ khó: sừng sững, xuống đất, sợ hãi, cỏ xước , xanh dài, .... Tôi sẽ ghi lên bảng như sau: s: sừng sững, sợ hãi, x: xuống đất, cỏ xước , xanh dài, Hỏi: trong dòng 1, em thấy những từ đó khó đọc ở phần nào? ( khó đọc ở phần phụ âm đầu: s); giáo viên ghi âm s trước dòng 1 bằng phấn màu. Với dòng 2 tôi cũng hỏi như vậy và ghi âm x trước dòng 2. Đối với những âm này, với HS của tôi, tôi phải hướng dẫn học các cách phát âm thật cụ thể, chi tiết. + Tôi hướng dẫn các em cách phát âm phụ âm s như sau: Phụ âm s là phụ âm tắc, khi phát âm phụ âm này, đầu lưỡi cong lên tiếp giáp với vòm lợi trên, luồng hơi bị cản lại nên phải len qua hai cạnh lưỡi để thoát ra ngoài, do vậy luồng hơi bật ra mạnh. 8
  7. Giáo viên làm mẫu hai lần, sau đó cho HS khá phát âm, gọi học sinh hay nhầm lẫn về phụ âm này tập phát âm. Lưu ý nên cho các em phát âm cá nhân để dễ phát hiện những em phát âm sai để sửa; Tiếp theo cho học sinh đọc tiếng khó có chứa phụ âm s. Phụ âm x là phụ âm xát, khi phát âm phụ âm này mặt lưỡi tiếp giáp với vòm lợi trên, luồng hơi không bị lưỡi cản lại nên thoát ra nhẹ nhàng hơn. Cách tiến hành cũng như hướng dẫn phát âm phụ âm s. Để học sinh có được thói quen phát âm đúng, tôi yêu cầu HS phát âm và đọc theo kiểu đối nhau. Đưa ra cách rèn như vậy là tôi muốn cho HS có phản ứng nhanh nhạy để tìm ngay ra được cách đọc đúng những từ có chứa các cặp phụ âm hay nhầm lẫn. Nếu chỉ rèn như vậy thì cũng chưa đủ mà việc luyện đọc từ khó cần phải được đặt trong văn cảnh, trong môi trường ngôn ngữ thì HS đọc những từ đó mới đúng hơn. Bởi nhiều khi đọc riêng từ HS có thể đọc đúng nhưng khi đặt từ đó vào trong câu văn, đoạn văn thì chưa chắc các em đã đọc đúng. Chính vì thế, sau khi rèn phát âm luyện đọc từ khó có chứa âm khó, tôi lại phải yêu cầu học sinh tìm những câu văn, câu thơ thậm chí đoạn văn, đoạn thơ có chứa từ khó đó cho học sinh đọc vì mục đích của rèn đọc đúng là rèn phát âm đúng để đọc đúng văn bản. Một số đồng chí GV có hỏi: Trong một giờ tập đọc nếu chỉ tập trung hướng dẫn đọc những từ có chứa phụ âm s- x thì những tiếng khó khác rèn vào lúc nào? Tôi cho rằng: Một cặp phụ âm hay nhầm lẫn s/ x và nó đã trở thành có tật không chỉ ở học sinh mà cả nhân dân địa phương. Nếu trong một tiết tập đọc có chủ định rèn cho HS về cặp phụ âm đó mà không thực hiện kĩ càng như vậy thì không thể đạt được cái đích đã đặt ra. Còn những từ khó khác ta có thể hướng dẫn các em đọc từ đó theo trình tự: GV hoặc HS hoàn thành tốt đọc mẫu sau đó gọi HS chưa hoàn thành đọc lại. Cách thức rèn cho HS đọc đúng các tiếng có thanh ngã, thanh hỏi và cả tiếng có nguyên âm đôi cũng tương tự như trên. Rèn cho HS thói quen đọc đúng những tiếng có nguyên âm đôi, các phụ âm mà học sinh hay nhầm lẫn là một việc làm không đơn giản. Bản thân một mình phân môn Tập đọc cũng khó có thể giải quyết được. Do vậy, theo tôi trong tất cả các giờ học và trong bất kỳ hoàn cảnh giao tiếp nào tôi và lực lượng nòng cốt của tôi gồm 20% HS không mắc lỗi sẽ giúp các em sửa ngay. Có như thế mới giải quyết được vấn đề. Với những cặp phụ âm còn lại, tôi cũng tiến hành rèn cho HS lần lượt theo từng bước như vậy. Đến khi năm học đã tiến hành được gần 3 tháng thì mức độ sai những tiếng có phụ âm hay nhầm lẫn, những tiếng có thanh hỏi, thanh ngã và những tiếng có nguyên âm đôi như đã nêu ra ở trên đã giảm rõ rệt. Nguyên Các lỗi x/ s ch/ tr d/ r/ gi Thanh ngã/ Thanh hỏi âm đôi Tỷ lệ mắc lỗi 25% 5% 10% 5% 20% Từ kinh nghiệm của những năm học trước tôi tin tưởng rằng trong những tháng còn lại của học kỳ 2 tôi sẽ giải quyết triệt để các lỗi còn lại. 9
  8. Biện pháp 2. Khắc phục tình trạng đọc ngắc ngứ và ngắt nghỉ chưa đúng. Như chúng ta đã biết, chữ Tiếng Việt của chúng ta viết rời ra từng âm tiết chứ không phải viết liền từng từ như chữ một số nước khác (Anh, Nga, Pháp..) nhưng khi đọc ta lại không đọc rời rạc từng âm tiết một mà phải đọc theo từng cụm từ. Ví dụ: Chị mặc áo thâm dài, đôi chỗ chấm điểm vàng, hai cánh mỏng như cánh bướm non, lại ngắn chùn chùn. Nếu tính về mặt âm tiết thì câu văn trên có 21 âm tiết, 14 từ, 5 cụm từ. Khi học sinh tập đọc không để các em đọc rời rạc từng âm tiết như kiểu đọc nhát gừng. Nếu để học sinh đọc theo từng từ thì vẫn chưa diễn đạt được ý của câu văn nên tôi phải hướng dẫn học sinh đọc theo cụm từ. Chị mặc áo thâm dài/, đôi chỗ chấm điểm vàng/, hai cánh mỏng như cánh bướm non/, lại ngắn chùn chùn. Cách hướng dẫn học sinh đọc theo cụm từ của tôi như sau: + Tôi viết câu văn đó ra bảng phụ ( đã chuẩn bị từ trước). + Vì giai đoạn đầu lớp còn đọc yếu, do vậy tôi đọc mẫu theo cách nghỉ như trên sao cho thật chuẩn. Sau đó tôi cho học sinh phát hiện những chỗ ngắt nghỉ của cô, nếu đúng tôi sẽ dùng phấn màu gạch chéo sau những từ cần ngắt. Nếu học sinh chưa phát hiện ra tôi có thể đọc mẫu lần thứ 2 những câu đó để học sinh có thể nhận ra. Đồng thời tôi luôn củng cố kỹ năng đọc khi gặp dấu chấm (phải nghỉ hơi), gặp dấu phẩy phải ngắt hơi. Khi đã nhận ra cách ngắt nghỉ sau cụm từ, sau dấu phẩy, sau dấu chấm tôi gọi một số học sinh khá đọc, sau đó mới gọi những em hay đọc ngắc ngứ. Có thể là một lần, cũng có thể là hai lần và phải tiến hành trong một thời gian. Tôi nghĩ hiện tượng đọc ngắc ngứ và ngắt nghỉ chưa đúng ở các em sẽ không còn xảy ra nữa. + Vậy khi học sinh đọc những câu văn dài, học sinh đã biết ngắt hơi sau cụm nhưng ngắt hơi trong thời gian bao lâu thì cũng là điều cần phải hướng dẫn các em. Thông thường, tôi hướng dẫn các em ngắt hơi sau cụm từ bằng thời gian ngắt nghỉ khi gặp dấu phẩy hoặc dấu chấm phẩy và đương nhiên thời gian đó phải ít hơn thời gian nghỉ khi đọc gặp dấu chấm. Tránh tình trạng học sinh ngắt nghỉ quá lâu làm cho người nghe cảm thấy rời rạc. Số học sinh mắc lỗi đọc ngắc ngứ, ngắt nghỉ chưa đúng hoặc đọc liến thoắng không nhiều nên chỉ sau 3 tuần kiên trì rèn đọc cho các em (gọi cho các em đọc nhiều hơn, sửa cho các em kỹ hơn) thì loại lỗi này không còn trong lớp tôi nữa, các em đọc đã khá trôi chảy, lưu loát. Biện pháp 3. Khắc phục tình trạng đọc lên xuống giọng tùy tiện. Theo tôi muốn khắc phục tình trạng lên xuống giọng tuỳ tiện thì giáo viên phải hướng dẫn thật tốt cách đọc các kiểu câu: Câu kể: ở cuối câu có dấu chấm khi đọc thường phải xuống giọng ở cuối câu. Câu hỏi: ở cuối câu có dấu chấm hỏi, khi đọc ta phải lên giọng ở cuối câu. Câu kể có dấu chấm lửng: khi đọc phải kéo dài giọng. 10
  9. Câu cảm, cầu cầu khiến: ở cuối câu có dấu chấm than khi đọc cần phải lên giọng ở cuối câu. Ví dụ: Trong bài" Dế mèn bênh vực kẻ yếu”(TV4, tập 1, tr.15) tôi hướng dẫn học sinh cách đọc các loại câu này như sau: - Chép đoạn văn đó lên bảng phụ. - Hỏi học sinh trong đoạn văn đó có những câu văn nào là câu hỏi, câu kể, câu cảm, câu cầu khiến và cách đọc của từng loại câu này, giáo viên dùng phấn màu ghi ký hiệu lên giọng  , xuống giọng  ở cuối mỗi loại câu. - Ai đứng chóp bu bọn này?  ( câu hỏi). -Có phá hết các vòng vây đi không!  ( câu khiến) Bọn nhện sợ hãi cùng dạ ran..  ( câu kể ) Sau đó tôi hoặc học sinh hoàn thành tốt đọc mẫu theo cách đọc đó rồi cho học sinh nhất là những em đọc yếu luyện đọc với số lượng từ 5 – 6 em. Việc làm này phải được tiến hành thường xuyên khi gặp những bài tập đọc có các kiểu câu như vậy, có như thế mới hình thành được thói quen đọc đúng. Sau khoảng thời gian 1 tháng số học sinh mắc lỗi này đã giảm chỉ còn 2/25 em. Biện pháp 4. Hướng dẫn học sinh đọc ngắt nghỉ hơi đúng dấu câu và những chỗ tách ý trong câu dài (đối với văn xuôi); ngắt nhịp (đối với văn bản thơ). Khi đọc các bài văn xuôi, học sinh thường mắc lỗi ngắt giọng ở những câu dài có cấu trúc ngữ pháp phức tạp, còn khi đọc thơ học sinh mắc lỗi ngắt nhịp do đọc theo áp lực của nhạc thơ một cách tự nhiên chứ không tính đến nghĩa. Để giúp học sinh đọc đúng ngữ điệu, tôi hướng dẫn học sinh nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm hoặc dựa vào nghĩa và quan hệ ngữ pháp để ngắt nhịp cho phù hợp. Ngoài ra cần đọc đúng các ngữ điệu câu: lên giọng ở câu hỏi, hạ giọng ở cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm cần diễn đạt trong câu cảm. Với câu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ các nội dung câu khiến khác nhau. Ngoài ra còn phải hạ giọng khi đọc bộ phận giải thích của câu...Đối với thơ, tôi hướng dẫn các em biết lựa chọn nhịp thơ để ngắt nghỉ (như: thơ lục bát thường ngắt theo nhịp 2/4, 4/4...). Các bài thơ tự do, nhịp thơ không ổn định nên tôi hướng dẫn các em phải dựa vào ý thơ để ngắt nhịp, Ví dụ: Tôi tưởng tượng/ nếu mang nó vào/ chắc bước đi sẽ nhẹ và nhanh hơn,/ tôi sẽ chạy trên những con đường đát mịn trong làng/ trước cái nhìn thèm muốn của các bạn tôi (Đôi giày ba ta màu xanh – TV4) Nhưng học sinh lại ngắt nhịp: Tôi tưởng tượng nếu mang nó vào chắc bước đi sẽ nhẹ và nhanh hơn,/ tôi sẽ chạy trên những con đường đát mịn trong làng / trước cái nhìn thèm muốn của các bạn tôi Để diễn tả niềm ao ước ngày nhỏ của chị phụ trách khi nhìn thấy đôi giày ba ta màu xanh, tâm trạng hồi hộp của chị khi tưởng tượng được đi đôi giày vào chân. Hoặc: Bè đi/ chiều thầm thì Gỗ/ lượn đàn thong thả. (Bè xuôi sông La -TV4) Nhưng học sinh lại ngắt nhịp: Bè đi chiều/ thầm thì. Để tạo ra 3 cặp chủ - vị làm cho hai câu thơ sống động hơn với nhiều đối tượng đựơc miêu tả, nhiều hoạt 11
  10. động và không hạn chế thời gian”Bè đi”vào buổi chiều mà tạo sự kết hợp bất thường"chiều thầm thì", cho thời gian cất lên thành lời. Cũng như vậy, ta chọn cách ngắt "Sông La/ ơi sông La”để"ơi”được ngân dài tha thiết, mà cách ngắt 3/2 không được hay như thế. Việc củng cố và rèn kĩ năng đọc thành tiếng không những được trú trọng trong các tiết tập đọc mà còn được tôi quan tâm ở tất cả các tiết học khác như đọc đề bài, quy tắc, kết luận, thông tin, Biện pháp 5. Rèn đọc diễn cảm. Chúng ta đều biết đọc diễn cảm khó hơn đọc bình thường. Đọc bình thường chỉ đòi hỏi phát âm đúng, đọc lưu loát, biết nghỉ đúng chỗ theo các dấu ngắt câu, biết lên, xuống giọng. Đọc diễn cảm đòi hỏi người đọc phải nắm chắc nội dung từng đoạn từng bài, tâm tình và lời nói của từng nhân vật để diễn tả cho đúng tinh thần của câu văn, bài văn, tức là đi sâu vào bản chất của câu văn, bài văn. Cho nên, mục đích đọc diễn cảm là bộc lộ ra được cái bản chất của nội dung và trên cơ sở đó muốn truyền đạt đúng những ý nghĩ và tình cảm của tác giả. Muốn đọc diễn cảm tốt phải hiểu kỹ nội dung của bài tập đọc và phải truyền đạt tốt sự hiểu biết của mình tới người nghe. Học sinh đọc diễn cảm chưa tốt là do nguyên nhân: GV chưa giúp HS cảm thụ tốt nội dung bài tập đọc và nguyên nhân cũng không kém phần quan trọng là khả năng đọc mẫu của GV còn hạn chế. Muốn đọc diễn cảm tốt, ta cần giúp HS cảm thụ tốt nội dung bài tập đọc. Muốn vậy cần phải chú ý: a, Bám sát yêu cầu của bài tập đọc. VD: Khi dạy bài Chợ Tết, (TV 4 tập 2, trang 38) Yêu cầu của bài tập đọc phải được xác định từ khi lập kế hoạch bài học ở nhà. + Đọc trôi chảy, lưu loát bài thơ, đúng nhịp của thể thơ tự do. Biết đọc diễn cảm bài thơ với giọng chậm rãi, nhẹ nhàng, phù hợp với việc diễn tả bức tranh giàu màu sắc, vui vẻ, hạnh phúc của một phiên chợ tết miền trung du. + Giáo dục HS yêu thiên nhiên, trân trọng những phong tục tập quán, những cảnh sinh hoạt của người dân quê miền trung du. Bám sát yêu cầu của bài tập đọc, trong 3 yêu cầu ấy phải được toát ra từ bản thân bài tập đọc và GV phải vận dụng vào thực tế lớp mình giảng dạy thì việc bám sát yêu cầu của bài tập đọc mới thực sự hiệu quả. b, Giảng từ và khai thác nghệ thuật. - Giảng từ: trong bài tập đọc thường có nhiều từ. Vậy ta cần phải giảng những từ nào? + Qua kinh nghiệm về giảng dạy phân môn Tập đọc tôi thấy có thể chia những từ để giảng làm 3 loại: loại từ khó, loại từ gắn với chủ đề đang học và loại từ chìa khoá (từ trung tâm). Từ khó có thể là từ địa phương được tác giả đưa vào bài, là loại từ Hán Việt, là danh từ riêng. Loại từ này thường có trong phần chú giải cho nên sau khi đọc mẫu xong tôi cho học sinh đọc phần chú giải để học sinh hiểu ngay được những từ này khi bắt đầu tiếp xúc với bài tập đọc. Từ chủ đề: Trong mỗi chủ đề tập đọc có một số từ ngữ mà giáo viên cần lưu ý bởi đó là những từ làm toát lên chủ đề. Từ chủ đề cũng có khi là từ khó. 12
  11. Giáo viên có thể kết hợp giảng các từ chủ đề với các từ khó hoặc với các từ trung tâm trong quá trình khai thác. Từ trung tâm: Đây là những từ có sức nặng, giáo viên cần khai thác để làm toát lên nội dung bài học. Ta chia những từ cần giảng làm 3 loại như vậy để dễ phân biệt còn trong thực tế nhiều khi từ khó cũng là từ chủ đề hoặc từ trung tâm. + Vậy khi giảng từ ta có thể dùng những phương pháp nào? Những phương pháp phổ biến là phương pháp trực quan, liên hệ, so sánh, phương pháp định nghĩa, giảng giải. Khi dùng phương pháp trực quan, tôi áp dụng bằng nhiều hình thức: Trực quan bằng giọng nói, giọng đọc, nét mặt, ánh mắt, dáng điệu, động tác, hình mẫu, tranh ảnh vật thực. VD: Trong bài “Người ăn xin”, khi giảng về từ nhìn chằm chằm tôi có thể dùng ánh mắt của mình nhìn một cách chăm chú, lâu không chớp mắt và có ý dò hỏi? Trong bài tập đọc khác tôi có thể dùng môi để giảng từ mấp máy, dùng cách đi để giảng từ rón rén, dùng tư thế để giảng từ lom khom, dùng giọng nói để giảng từ sang sảng, oang oang, dùng chỉ màu để giảng từ sặc sỡ, dùng hình mẫu để giảng từ nhà sàn, nhà trệt. Phương pháp trực quan: Là phương pháp rất tốt để học sinh có thể hiểu và nhớ lâu nghĩa của từ nhưng phương pháp này chỉ dùng để giảng từ cụ thể. Khi gặp những từ trừu tượng như chính đáng, văn hóa, nhân bản, thuần hậu, hiền hòa, thì rất khó dùng phương pháp này. Do vậy, ngoài phương pháp này tôi còn sử dụng nhiều phương pháp khác. Phương pháp định nghĩa, giảng giải: Ở lớp 4 nhận thức lý tính tổng quát của học sinh đã phát triển nên trong khi giảng từ cho học sinh hiểu tôi vẫn thường dùng phương pháp định nghĩa hay giảng giải xen lẫn các phương pháp khác. Ví dụ: Khi giảng từ quyến rũ tôi dùng phương pháp giảng giải - Quyến rũ có nghĩa là có một sức lôi cuốn mạnh mẽ làm cho quyến luyến không muốn rời xa. - Mãnh liệt, day dứt ý nói thôi thúc, day dứt, dai dẳng và mạnh mẽ. Khi giảng về từ truyền thống tôi dùng phương pháp định nghĩa. Truyền thống là những phẩm chất tốt đẹp hoặc những điều tốt đẹp được giữ gìn, phát triển và truyền từ đời này sang đời khác. Ví dụ: Dân tộc ta có truyền thống yêu nước nồng nàn. Phương pháp so sánh: Khi giảng về từ lạnh tê tái, tôi nêu lên một loạt các khái niệm lạnh lẽo, lạnh buốt, lạnh giá để học sinh thấy được lạnh tê tái ở mức độ cao hơn. Mặt khác, tôi cho học sinh tìm từ trái nghĩa với từ lạnh tê tái là nóng hầm hập để học sinh càng hiểu rõ hơn về ý nghĩa của từ này. Khai thác nghệ thuật: Theo tôi bài tập đọc là một thể thống nhất giữa hai mặt nội dung và nghệ thuật, do vậy, tôi nghĩ chúng ta phải thông qua việc khai thác nghệ thuật để làm toát lên nội dung tư tưởng. Tôi thấy trong khi dạy tập đọc vốn kiến thức văn học mà học sinh tích luỹ được chưa nhiều. 13