Báo cáo Biện pháp Một số kinh nghiệm lồng ghép giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ Mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi qua các hoạt động
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Biện pháp Một số kinh nghiệm lồng ghép giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ Mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi qua các hoạt động", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_bien_phap_mot_so_kinh_nghiem_long_ghep_giao_duc_ky_n.doc
Báo cáo Biện pháp Một số kinh nghiệm lồng ghép giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ Mẫu giáo lớn.pptx
Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Một số kinh nghiệm lồng ghép giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ Mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi qua các hoạt động
- 3 giáo dục kỹ năng BVBT cho trẻ trong giờ đón trả trẻ; giờ hoạt động học, giờ hoạt động ngoài trời; giờ hoạt động góc; giờ hoạt động chiều; trong hoạt động thăm quan, dã ngoại của trẻ... 3.1. Lồng ghép kỹ năng BVBT qua hoạt động đón, trả trẻ: Việc học tiếp nhận thông tin, kiến thức của trẻ diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, trong các hoạt động hàng ngày của trẻ. Chính vì vậy, tôi có thể giáo dục kỹ năng BVBT cho trẻ trong giờ đón - trả trẻ. Ví dụ: Giờ đón, trả trẻ, tôi trò chuyện cùng trẻ về một số ĐDĐC có thể gây nguy hiểm cho trẻ. Cho trẻ biết những ĐDĐC nào nên và không nên sử dụng. Cách sử dụng các đồ dùng an toàn cho trẻ. Dạy trẻ cách giao tiếp để tự bảo vệ mình: Nếu lạc đường con sẽ tìm đến ai để hỏi? Con hỏi như thế nào? Nếu có người lạ đụng chạm vào người con phải làm gì? Nếu bị ai bắt nạt con kêu cứu như thế nào? Ảnh 1: Cô giáo và các bé trò chuyện cách sử dụng ĐDĐC an toàn (Phụ lục) 3.2. Lồng ghép kỹ năng BVBT qua các hoạt động học: Thông qua các hoạt động học, đây là một trong những hoạt động để tôi tích hợp có hiệu quả nội dung giáo dục kỹ năng BVBT cần thiết cho trẻ. Quá trình vui chơi học tập ở trường của các con có thể gặp phải những mối nguy hiểm từ những đồ chơi, đồ vật trong trường lớp như: Ngã đu quay, cầu trượt, chạy nhảy vấp ngã trên sân trường, các ổ điện, đồ chơi trong lớp...trẻ cần hiểu được đâu là đồ chơi, đồ dùng trong trường, trong lớp; đâu là đồ vật an toàn và đồ vật không an toàn. Tôi thường xuyên kiểm tra loại bỏ những ĐDĐC gãy hỏng không an toàn để phòng tránh TNTT cho trẻ. Ví dụ: Hoạt đông: “Dạy trẻ không chơi với những đồ vật nguy hiểm”. Tôi cung cấp kiến thức, kỹ năng cho trẻ trong tiết dạy dưới dạng tranh ảnh. Cho trẻ về 2 nhóm để thảo luận: Nhóm 1 thảo luận về đồ dùng sắc nhọn: dao, kéo, đinh, cạnh bàn, cạnh ghế. Nhóm 2 thảo luận về đồ dùng gây bỏng, điện giật, ấm nước sôi, ổ điện, bếp ga, bật lửa. Trẻ thảo luận xong tôi mời đại diện các nhóm lên giới thiệu trình bày những hiểu biết về các đồ dùng, cách xử lý của nhóm mình cho nhóm còn lại biết. Sau mỗi lần giới thiệu tôi đặt ra các câu hỏi để cả lớp trả lời. Tôi hỏi nhóm 1 (Nhóm thảo luận về đồ dùng sắc nhọn: dao, kéo, đinh, cạnh bàn, cạnh ghế). Các con có nhận xét gì về các đồ dùng này? Điều gì sẽ xảy ra nếu các con tự ý dùng dao, kéo? Khi nào thì các con được dùng dao, kéo? Và phải dùng như thế nào? Các con phải làm gì khi chơi gần cạnh bàn, cạnh ghế? Tiếp theo tôi hỏi nhóm 2 (Nhóm thảo luận về đồ dùng gây bỏng, điện giật, ấm nước sôi, ổ điện, bếp ga). Đối với những đồ dùng này thì các con phải làm sao? Vì sao lại phải tránh xa? Điều gì sẽ xảy ra khi các con nghịch ấm nước
- 4 sôi hay cho tay vào ổ điện? Ai sẽ là người được dùng những đồ vật này? Và tôi cho trẻ chơi các trò chơi để củng cố khắc sâu kiến thức vừa học như trò chơi: “Gạch bỏ các hành vi sai”; “Chọn đồ chơi an toàn, không an toàn” Ví dụ: Tiết học: “Khám phá đồ dùng gia đình”; “Sự an toàn trong gia đình bé”. Trẻ biết các đồ dùng trong gia đình: Phích nước, quạt điện, ổ điện, bếp ga, dao, kéo, cạnh bàn, cạnh ghế, cầu thang là những đồ dùng gây nguy hiểm cho trẻ. Tôi giới thiệu, hướng dẫn trẻ biết cách sử dụng an toàn các đồ dùng trong gia đình. Sau mỗi tiết học trẻ được củng cố ôn luyện kiến thức bằng các trò chơi động tĩnh đan xen linh hoạt về các nội dung học. Qua đó trẻ được khắc sâu kiến thức, trẻ biết rõ các mối nguy hiểm, không an toàn ở xung quanh mình. Ảnh 2: Các bé tìm hiểu cách phòng tránh TNTT khi sử dụng các đồ dùng trong gia đình (Phụ lục) Vấn đề phòng tránh xâm hại trẻ em ở Việt Nam chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Tuy nhiên, đây lại là vấn đề khá nhức nhối trong xã hội hiện nay. Để đảm bảo cho trẻ có những kiến thức cơ bản về vấn để bảo vệ thân thể cũng như cách phòng tránh khi bị xâm hại cơ thể, giáo viên cần trang bị cho trẻ những kiến thức cần thiết, giúp trẻ hiểu được thế nào là hành động xâm phạm thân thể, nếu bị xâm hại cơ thể các con nên ứng xử ra sao? Trẻ 5 - 6 tuổi chưa thể hiểu được tên gọi các bộ phận thể hiện giới tính, giáo viên cũng không thể sử dụng tên gọi bộ phận sinh dục nam - nữ trong y khoa để nói với trẻ. Vì vậy tôi đã sử dụng búp bê trai, búp bê gái mặc đồ bơi, để che đi các bộ phận riêng tư, vùng kín. Dạy trẻ biết đó là những vùng nhạy cảm, các con cần tôn trọng và giữ gìn vệ sinh sạch sẽ. Không để mọi người thấy bộ phận riêng tư của mình và đặc biệt tuyệt đối không cho bất cứ ai động vào cũng như không được đụng chạm vào bộ phận riêng tư, vùng kín của bất cứ ai, của bất cứ bạn nào trong lớp. Ví dụ: Hoạt đông: “Dạy trẻ kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể”. Tôi trò chuyện với trẻ, giúp trẻ biết về giới tính của bản thân, các vùng riêng tư trên cơ thể và cách giữ gìn vệ sinh thân thể sạch sẽ. Khích lệ trẻ mạnh dạn chia sẻ với cô giáo về những hành động không nên của bạn cùng lớp đối với cơ thể mình, đặc biệt một số hành động của bé trai đối với bé gái khi ở lớp học. Song song việc giúp trẻ hiểu về giới tính của bản thân, về vùng riêng tư của trẻ, tôi còn đề ra một số qui định ở lớp như: Đi vệ sinh đúng nơi qui định. Bạn trai không được nhìn bạn gái khi đi vệ sinh, khi thay đồ và ngược lại. Không được sờ, nghịch, các bộ phận riêng tư của mình. Ảnh 3: Các bé say sưa tìm hiểu về kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể (Phụ lục)
- 5 Tôi còn dạy trẻ học cách tự BVBT theo quy tắc: "Năm ngón tay". Nội dung của quy tắc 5 ngón tay như sau: Ngón cái - gần mình nhất tượng trưng cho những người thân ruột thịt trong gia đình như ông bà, bố mẹ, anh chị em ruột. Bé có thể ôm hôn những người này hoặc đồng ý để cho thành viên trong gia đình ôm hôn để thể hiện tình yêu, tắm rửa cho bé khi bé còn nhỏ. Nhưng khi đã lớn thì bé sẽ tự tắm và thay quần áo trong phòng. Ngón trỏ - tượng trưng cho thầy cô, bạn bè trong trường, lớp hoặc họ hàng trong gia đình những người này có thể nắm tay hoặc chơi đùa song chỉ dừng lại ở đó. Còn nếu ai chạm vào “vùng đồ bơi", bé sẽ hét to và gọi mẹ. Ngón giữa - người quen biết nhưng ít khi gặp như hàng xóm bạn bè của cha mẹ, những người này bé chỉ cần bắt tay, cười, chào hỏi. Ngón áp út - người quen của gia đình mà bé gặp lần đầu với những người này bé chỉ cần dừng lại ở mức độ vẫy tay chào. Ngón út - ngón tay xa bé nhất thể hiện những người hoàn toàn xa lạ hoặc người có cử chỉ thân mật, khiến bé thấy lo sợ, bất an đối với những người này bé hoàn toàn có thể bỏ chạy hét to để thông báo với người xung quanh. Ảnh 4: Cách xử lý tình huống khi bị xâm hại cơ thể (Phụ lục) Các nội dung trong quy tắc: "Năm ngón tay" được viết thành bài hát: “Năm ngón tay xinh”, tôi thường cho trẻ nghe và hát bài hát này để trẻ hiểu và thực hiện. Ảnh 5: Cô giáo và các bé biểu diễn bài hát:“Năm ngón tay xinh” (Phụ lục) Để khắc sâu bài học, tôi đã xây dựng các bước phòng tránh xâm hại cơ thể giúp trẻ ghi nhớ và thực hiện bằng cách đưa ra tình huống nếu ai đó cố tình nhìn, nói, đụng chạm vào vùng kín của con hoặc yêu cầu con nhìn và đụng chạm vùng kín của họ thì các con sẽ làm gì? Bước 1: Phản đối nói “Không”, xua tay, cắn thật mạnh vào tay, vai kẻ xấu. Bước 2: Bỏ chạy, chạy thật nhanh đến nơi đông người, đồng thời hô to để mọi người chú ý đến mình. Bước 3: Kể lại tất cả câu chuyện mà người xấu đã làm với con với bố mẹ và những người các con tin cậy để người lớn kịp thời can thiệp và bảo vệ các con được an toàn. Theo các nhà nghiên cứu chỉ rõ: Trẻ hiểu được 10% những gì trẻ nghe; 40% những gì nhìn thấy; 60% những gì trẻ nhắc lại (nói) và khoảng 90% những gì trẻ nói và làm. Chính vậy sau mỗi tình huống mà giáo viên đưa ra, trẻ sẽ được nhập vai và thể hiện cách xử lý trong từng tình huống từ đó trẻ sẽ có biểu tượng về các hành vi chuẩn mực làm giàu vốn sống, vốn kinh nghiệm giúp trẻ biết lựa chọn những hành vi tích cực để áp dụng vào cuộc sống của mình. Có rất nhiều tình huống xảy ra có thể đe dọa đến sự an toàn của trẻ. Tình huống mà giáo viên cần dạy trẻ phải thật gần gũi, thực tế, dễ hiểu phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ. Giáo viên cần dạy trẻ hiểu được trong tình huống nào thì phải làm gì để
- 6 tránh sự nguy hiểm. Tôi đã đưa các tình huống cụ thể, chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ cùng thảo luận các tình huống để tìm ra cách giải quyết. Ví dụ: Giờ học: “Dạy trẻ kỹ năng không nhận quà và đi theo người lạ”. Tình huống thứ nhất: Không nhận quà hoặc bất cứ cái gì từ người lạ: Đặt vấn đề: Có người lạ đến cho con ăn kẹo, bánh, uống sữa hay đồ chơi con sẽ làm gì? Cho trẻ suy nghĩ và đưa ra cách giải quyết của mình. + Kỹ năng bé cần biết: Tuyệt đối không được nhận/cầm/ăn đồ của người lạ. Không tiếp tục đứng gần, nói chuyện hay tiếp xúc với người đó, hãy đi ra chỗ người thân, bạn bè, chỗ đông người. Kể cho bố mẹ, người thân đang ở bên cạnh ngay. Tình huống thứ hai: Không đi theo người lạ: Đặt vấn đề: Nếu những người không quen biết nói đưa con đi mua kẹo bánh, bim bim, đồ chơi hay đưa con về nhà thì con sẽ làm gì? Tôi cho trẻ suy nghĩ, đưa ra ý kiến của mình, gợi mở cho trẻ bằng các câu hỏi và phân tích, giải thích cho trẻ và giúp trẻ có phương án giải quyết đó là: biết cách từ chối nhưng vẫn thể hiện sự lễ phép, ngoan ngoãn: “Cháu cám ơn, nhưng bố mẹ cháu không cho nhận quà của người lạ”. Tôi tiếp tục đặt giả thiết nếu con từ chối nhưng họ vẫn một mực dúi quà vào tay con và có ý lôi kéo con thì lúc đó con làm gì? Với giả thiết này tôi muốn trẻ có phản ứng thật nhanh như hét to, cấu thật mạnh vào tay người lạ và chạy nhanh đến người thân gần đó hoặc chỗ đông người. Tôi cho trẻ lên đóng vai người bị dụ dỗ, tôi vào vai người lạ. Thông qua vai trẻ đóng, trẻ sẽ ứng phó với tình huống theo sự hiểu biết của bản thân, từ đó giúp trẻ khắc sâu hơn những kinh nghiệm mà trẻ có được. + Kỹ năng bé cần biết: Nói “Không” với người lạ mặt. Người lạ mặt cố nài ép, dụ dỗ con thì con cần đến chỗ chú bảo vệ, chú công an, ghé vào đồn công an gần nhất hoặc chạy vào một cửa hàng ở gần đó nhờ giúp đỡ. Khi đang ở ngoài chỗ đông người mà bị ép đi theo, con hãy hô thật lớn, kẻ xấu sẽ tự đi. Trẻ mầm non thường thích chơi đùa ở những nơi công cộng đông người, diện tích rộng như trung tâm thương mại, công viên, nên đã không ít lần xảy ra các trường hợp trẻ bị lạc bố mẹ. Do vậy, dạy trẻ kỹ năng xử lý khi bị lạc là rất quan trọng, cần dạy cho trẻ từ sớm. Ví dụ: Hoạt động: “Dạy trẻ kỹ năng xử lý khi bị lạc”. Tôi đưa ra tình huống “Bị lạc”: Đặt vấn đề: Khi đang đi chơi tại trung tâm thương mại, công viên, hay đi mua sắm, con bị lạc bố mẹ thì con sẽ làm gì? Tôi cho trẻ suy nghĩ, mỗi trẻ sẽ đưa ra cách giải quyết của riêng trẻ. Gợi mở cho trẻ bằng các câu hỏi: Theo con làm vậy có được không? Tạo sao? Sau đó cô giúp trẻ rút ra phương án tối ưu nhất. Ảnh 6: Tiết học giáo dục trẻ cách xử lý khi bị lạc. (Phụ lục)
- 7 + Kỹ năng bé cần biết: Nếu vừa bị lạc bố mẹ khi đang mua sắm hoặc vui chơi thì con hãy đứng yên một chỗ, nơi mà bố mẹ con dễ dàng nhìn thấy, không chạy lung tung. Nhờ một người bên cạnh liên lạc vào số di động, điện thoại bàn, bất kỳ số điện thoại nào mà con có thể nhớ. Nếu bị lạc bố mẹ từ lúc nào mà con cũng không biết thì con cần hỏi người xung quanh và tìm đến các phòng trung tâm của khu thương mại, công viên để nhờ họ đọc loa tìm bố mẹ. Khi con bị lạc trên đường, nếu có thể, hãy tìm đến sự giúp đỡ của một chú công an và đến đồn cảnh sát để bố mẹ có thể tìm thấy con. Thông qua các tình huống cụ thể mà rất dễ xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, bằng cách cho trẻ thảo luận, yêu cầu trẻ suy nghĩ vận dụng kinh nghiệm của bản thân để giải quyết tình huống. Qua đó, cô giúp trẻ tìm ra phương án hiệu quả nhất, để xử lý các tình huống nguy hiểm khi trẻ gặp phải. Kỹ năng an toàn khi tham gia giao thông là một trong những kỹ năng BVBT cho trẻ mầm non vô cùng quan trọng. Trẻ nắm rõ kỹ năng này sẽ giúp con hình thành các thói quen tốt và là nền tảng cho sự phát triển của con sau này. Đây là một kỹ năng quan trọng đối với trẻ khi tham gia vào xã hội. Giáo viên cần trang bị kiến thức kỹ năng an toàn khi tham gia giao thông cho trẻ. Từ đó giúp trẻ hiểu được một số loại biển báo cơ bản, một số loại đường cơ bản, một số người có vai trò trong việc điều hành giao thông, cách sang đường cũng như cách đi qua các ngã ba, ngã tư. Ví dụ: Bài học: “Một số biển báo giao thông”. Trẻ biết được một số loại biển báo giao thông: Biển báo cấm; Biển báo nguy hiểm; Biển báo hiệu lệnh; Biển báo chỉ dẫn...qua đó giáo dục trẻ có ý thức chấp hành LLGT, thực hiện đúng hiệu lệnh của các biển báo. Ảnh 7: Các bé tìm hiểu về một số biển báo giao thông (Phụ lục) Ví dụ: Hoạt động khám phá: “Luật giao thông đường bộ đơn giản”. Trẻ biết một số LLGT đường bộ phổ biến là: Đi bộ đi trên vỉa hè, đèn đỏ dừng lại, đèn xanh được đi, không đi ngược chiều, không đi dưới lòng đường Bài học hình thành ở trẻ ý thức chấp hành LLGT. Giáo dục trẻ: Khi đi trên đường phải tuân theo LLGT để tránh tai nạn cho mình và mọi người, tránh ùn tắc giao thông. Ảnh 8: Các bé hứng thú tham gia hoạt động khám phá:“Luật giao thông đường bộ đơn giản” (Phụ lục) Ví dụ: Bài học: “Phương tiện giao thông”. Tôi dạy trẻ biết cách để an toàn khi đi trên các phương tiện giao thông như: Phải đội mũ bảo hiểm khi đi xe mô tô, khi đi xe ô tô người ngồi trên xe phải thắt dây an toàn, không được đưa tay thò đầu ra ngoài cửa sổ, phải đợi xe dừng hẳn mới lên hoặc xuống xe, không đùa nghịch dưới lòng, lề đường. Nếu được đi máy bay phải thắt dây an toàn và
- 8 chú ý làm theo hướng dẫn của nhân viên trên máy bay, khi đi tàu thuyền phải mặc áo phao cứu hộ. Ví dụ: Các tiết học LQVH: Thơ: “Cháu dắt tay ông"; Truyện: “Qua đường”. Tôi lồng ghép giáo dục trẻ kỹ năng BVBT khi đi qua ngã tư đường phố. Sau đó tôi cho trẻ chơi trò chơi: “Ngã tư đường phố”, trẻ vừa đọc thơ vừa thực hành qua ngã tư đường phố, hoặc đóng kịch theo nội dung câu truyện. Ảnh 9: Tiết học LQVH - Bài thơ: “Cháu dắt tay ông”. (Phụ lục) 3.3. Lồng ghép kỹ năng BVBT qua hoạt động ngoài trời, khi lao động: Hoạt động ngoài trời cũng là một trong những hoạt động mà tôi có thể lồng ghép tích hợp giáo dục nhiều kỹ năng cần thiết cho trẻ như kỹ năng chơi an toàn, biết tránh những nơi nguy hiểm, biết đi giầy dép, khẩu trang, găng tay khi lao động Ví dụ: Trong giờ hoạt động ngoài trời tôi giới thiệu cho trẻ biết về cách sử dụng các đồ chơi và các quy định về cách chơi các đồ chơi. Tôi cho trẻ tìm hiểu về các đồ chơi ngoài sân trường và trò chuyện với trẻ về cách chơi làm sao cho an toàn. Khi chơi vận động, nếu các con chơi không cẩn thận sẽ bị ngã, bị đau...Vậy các con phải chơi như thế nào? Các con nhớ chơi nhẹ nhàng, không chạy nhảy xô đẩy nhau. Không leo trèo ra ngoài thành, lên trên của các đồ chơi này. Để trẻ biết và tránh xa các mối nguy hiểm trong quá trình chơi. Ảnh 10: Trẻ chơi an toàn với các đồ chơi trong sân trường (Phụ lục) 3.4. Lồng ghép kỹ năng BVBT qua hoạt động góc: Phương pháp giáo dục mầm non chủ yếu là thông qua các hoạt động vui chơi cho trẻ. Vui chơi là hoạt động chủ đạo trong các trường mầm non, qua vui chơi trẻ được học hỏi, tiếp thu hiểu biết và các kĩ năng BVBT qua các trò chơi, giúp trẻ phát triển toàn diện. Ví dụ: Hoạt động góc, trước khi trẻ về các góc chơi, tôi luôn cho trẻ nhắc lại nội quy góc chơi và nhắc trẻ chơi an toàn, chơi đoàn kết, biết chia sẻ đồ chơi với bạn. Ảnh 11: Các bé hứng thú tham gia chơi ở các góc chơi (Phụ lục) 3.5. Lồng ghép kỹ năng BVBT qua hoạt động chiều: Hoạt động chiều: Tôi cho trẻ: “Nhận biết những nguy cơ cháy nổ có thể gặp”. Tôi cung cấp cho trẻ những kiến thức, và kĩ năng cơ bản sau: Nhận biết các nguồn gây ra lửa (bếp gas, bật lửa, nến, dầu, xăng). Dạy trẻ biết ảnh hưởng tốt /xấu của lửa trong cuộc sống. Biết cách dập lửa an toàn (khăn ướt, nước, bình xịt). Tôi trang bị kiến thức và kĩ năng cần thiết cho trẻ, dạy trẻ cách ứng phó biết cách thoát ra nếu không may gặp hỏa hoạn. Ảnh 12: Cô giáo và các bé xem các hình ảnh: Lửa và hoả hoạn (Phụ lục) 3.6. Lồng ghép kỹ năng BVBT qua hoạt động thăm quan, dã ngoại:
- 9 Trong hoạt động cho trẻ đi thăm quan, dã ngoại. Khi đi thăm quan, dã ngoại là trẻ được tham gia giao thông thực tế, điều này khiến trẻ rất thích thú. Giáo viên cho trẻ đeo khẩu trang, trò chuyện, dặn dò trẻ trước khi đi. Các con phải đi lần lượt theo hàng, không chạy lung tung. Khi đi trên đường các con phải đi như thế nào? Có được chạy lung tung không? Nếu lạc thì các con phải làm gì? Ảnh 13: Các bé thích thú tham gia hoạt động thăm quan, dã ngoại (Phụ lục) 3.7. Tuyên truyền và phối hợp với phụ huynh Sự kết hợp giữa giáo viên và phụ huynh trong việc CSGD trẻ trong các HĐGD là rất quan trọng và cần thiết, đặc biệt là các hoạt động giáo dục kỹ năng BVBT cho trẻ. Tôi đã trao đổi với phụ huynh những nội dung, kỹ năng mà trẻ được học ở trường đề phụ huynh cùng phối hợp củng cố khắc sâu kiến thức cho trẻ ở nhà. Tuyên truyền tới phụ huynh những kiến thức về giáo dục kỹ năng BVBT cho trẻ như: Kỹ năng an toàn khi chơi. Kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể. Kỹ năng không nhận quà và đi theo người lạ. Kỹ năng xử lý khi bị lạc. Kỹ năng an toàn khi tham gia giao thông để phụ huynh phối hợp cùng cô giáo trong việc thống nhất phương pháp giáo dục trẻ: Tin tưởng vào năng lực của trẻ. Tôn trọng ý kiến của trẻ, không áp đặt ý kiến của mình. Không nói dài và nói nhiều, không đưa lời giải đáp có sẵn mà hãy đưa câu hỏi để trẻ tự tìm tòi. Không vội vàng phê phán đúng - sai mà kiên trì giúp trẻ biết tranh luận và có thể đưa ra kết luận của mình. Ảnh 14: Giáo viên chia sẻ kinh nghiệm dạy trẻ kỹ năng bảo vệ bản thân với PHHS (Phụ lục) 4. Hiệu quả SKKN: Sau một thời gian áp dụng: “Biện pháp lồng ghép giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân qua các hoạt động cho trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi” tôi thấy biện pháp đã đạt hiệu quả tích cực, rõ rệt. * Đối với giáo viên: Giáo viên có thêm kiến thức, kỹ năng, cách thức tổ chức đa dạng, linh hoạt, sáng tạo lồng ghép vào các hoạt động giáo dục để dạy trẻ kỹ năng biết cách tự BVBT. * Đối với trẻ: Trẻ hứng thú, mạnh dạn tự tin hơn, có kiến thức và các kỹ năng tự BVBT. Trẻ biết chia sẻ với bạn, đoàn kết, chơi ngoan, chơi an toàn. Trẻ biết giải quyết vấn đề, có kỹ năng ứng biến khi gặp các tình huống. Trẻ có kỹ năng suy luận, suy đoán tìm ra cách giải quyết ở các tình huống khác nhau và hình thành cho trẻ kỹ năng sau này. * Đối với phụ huynh: Phụ huynh an tâm, tin tưởng về phương pháp giáo dục của giáo viên. Quan tâm, gần gũi chia sẻ với con về các kỹ năng BVBT của trẻ, cũng như các vấn đề tế nhị mà lâu nay phụ huynh ít đề cập đến với trẻ. (Bảng kết quả - Phụ lục)
- 10 PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận: Việc vận dụng một số kinh nghiệm lồng ghép giáo dục kỹ năng BVBT cho trẻ 5 - 6 tuổi qua các hoạt động đem lại hiệu quả rõ rệt trong việc chăm sóc giáo dục trẻ mầm non. Đảm bảo an toàn cho trẻ cả về thể chất và tinh thần khi ở trường và ở nhà. Giúp trẻ có sự phát triển toàn diện về mọi mặt, tạo tiền đề tâm thế sẵn sàng bước vào lớp 1. 2. Bài học kinh nghiệm: Để giáo dục kỹ năng BVBT cho trẻ đạt kết quả tốt giáo viên cần: Lắng nghe ý kiến của trẻ, không gò bó, áp đặt trẻ, cô luôn là người chỉ dẫn, dạy trẻ những kinh nghiệm tự bảo vệ bản thân. Tăng cường tổ chức các hoạt động giáo dục phát huy tính tích cực, sáng tạo ở trẻ, giúp trẻ hứng thú, tích cực tham gia các hoạt động. Qua đó trẻ biết vận dụng kiến thức, kỹ năng vào việc giải quyết các tình huống khác nhau. Cần đưa ra các tình huống cụ thể để trẻ được thực hành trải nghiệm. Luôn kết hợp với gia đình trong việc giáo dục kỹ năng tự BVBT cho trẻ. 3. Khuyến nghị và đề xuất: * Về phía phòng giáo dục và nhà trường: Thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng chuyên môn, chuyên để giáo dục kỹ năng sống - kỹ năng BVBT cho trẻ, các hoạt động trải nghiệm có lồng ghép kỹ năng BVBT cho trẻ để giáo viên bồi dưỡng CMNV. Trên đây là: “Một số kinh nghiệm lồng ghép giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi qua các hoạt động”. Tôi rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các đồng chí trong BGH nhà trường và đồng nghiệp để biện pháp của tôi được hoàn thiện, giúp tôi có thêm nhiều kinh nghiệm trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Tôi xin trân trọng cảm ơn! Long Biên, ngày 18 tháng 03 năm 2023

