Báo cáo Biện pháp Một số giải pháp kích thích hứng thú học tập môn Vật Lí ở THPT

doc 14 trang Chăm Nguyễn 01/07/2025 280
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Biện pháp Một số giải pháp kích thích hứng thú học tập môn Vật Lí ở THPT", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docbao_cao_bien_phap_mot_so_giai_phap_kich_thich_hung_thu_hoc_t.doc

Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Một số giải pháp kích thích hứng thú học tập môn Vật Lí ở THPT

  1. NỘI DUNG I. Kích thích hứng thú và chú ý của học sinh đối với kiến thức Việc lĩnh hội tự giác và tích cực tài liệu mới và mức độ nổ lực của học sinh trong giờ học phụ thuộc rất nhiều vào sự chuẩn bị trước giờ học của họ về công việc sắp tới và vào mức độ kích thích được hứng thú và chú ý của học sinh đối với tài liệu học tập mới. Hứng thú đối với việc lĩnh hội kiến thức do nhiều điều kiện quy định, trong đó trước hết là nội dung tài liệu học, tính chất của toàn bộ hệ thống giảng dạy môn học, mức độ giác ngộ của học sinh về sự tiến bộ của bản thân trên con đường tiếp thu những cơ sở vật lí học Tuy nhiên, kính nghiệm chứng tỏ rằng muốn kích thích hứng thú của học sinh đối với mổi vấn đề học tập cụ thể thì cần áp dụng các thủ thuật đặc thù riêng biệt. Trong giáo trình vật lí học, nhiều tài liệu tự nó đã kích thích được hứng thú của học sinh vì tính chất mới lạ và thời sự của nó, không cần thiết một sự gia công đặc biệt nào về phương pháp giảng dạy hoặc về cách thức trình bày. Ví dụ: học sinh hồi hộp tiếp thu đề tài học “Định luật vạn vật hấp dẫn”, “Chuyên động ném ngang”; “phản xạ toàn phần”, “kính thiên văn”, “Sóng âm” Ngoài ra, còn có những vấn đề học tập mà học sinh cho là không hấp dẫn vì học ít nhiều đã biết qua sách giáo khoa hoặc qua việc qua việc thông tin ngoài giờ học và tỏ ra là đã nhận thực được, đã hiểu từ trước. Ví dụ như học tập về các vấn đề “chuyển động thẳng đều”, “lực ma sát”, “dòng điện trong kim loại” không gây được hứng thú rõ rệt. Trong những trường hợp này, muốn kích thích hứng thú của học sinh cần làm sáng tỏ và phân biệt trong nội dung học tập những điều đã biết, đã hiểu với những điều mới, chưa hiểu biết và tập trung chú ý của học sinh vào những điều mới cần phải học ấy. Ví dụ khi dạy bài “ lực ma sát”: trước hết yêu cầu học sinh kể tất cả những điều đã biết về vấn đề này. Dựa vào kinh nghiệm trong sinh hoạt và các kênh thông tin khác thì hình như mọi điều đã biết. Tuy nhiên khi giáo viên hỏi lực ma sát trượt phụ thuộc những yếu tố nào? Con người đi được trên mặt đất nhờ lực nào?...Học sinh không thể nào tức thì giải đáp được những câu hỏi này. Lúc đó học sinh sẽ thấy cái gì là mới mà bài học đem lại. Hứng thú về nội dung bài học sẽ tăng lên rõ rệt. 3
  2. Tuy nhiên, bản thân những điều mới mẻ trong tài liệu không phải bao giờ cũng tạo ra được hứng thú đầy đủ cho việc học tập nó. Nếu học đề tài “thế năng” thì dù những khái niệm ấy hoàn toàn mới lạ cũng không gây được một đã nhận thức nào đáng kể. Trong những trường hợp tương tự, ta lại gặp một thái cực khác trong đó học sinh hoàn toàn không hiểu đề tài học nên không thấy lợi ích, hứng thú, vui thích học. Rõ ràng là trước khi nghiên cứu loại tài liệu này cần giải thích một cách dễ hiểu nội dung của nó, cho học sinh thấy lợi ích về mặt nhận thức và trong thực tế của việc học này. Nhưng tuyệt đại đa số đề tài và vấn đề học nằm giữa 2 thái cực này. Theo lệ thường, khi tiến từ đề tài học này sang đề tài học khác, học sinh nắm được lợi ích logich của vấn đề tiếp theo sau, đánh giá được tính chất mới lạ nhiều hay ít, thấy được mức độ vừa sức trong việc tiếp thu đề tài. Vì thế, trong số lớn trường hợp đã có sự hứng thú với việc học tập những điều mới. Nhiệm vụ của giáo viên chỉ là làm sao cho việc học tài liệu mới trở nên khá thú vị và hấp dẫn. Tất nhiên là sự hứng thú với việc học tập đạt được không phải do những lời lẽ đùa vui mà do chính nội dung của tài liệu học tập gây ra. Một nhà khoa học đã viết “tính thú vị nội tại của việc giảng dạy dựa vào quy luật là chúng ta thường chú ý đến tất cả cái gì là - Điều mới đối với chúng ta nhưng không mới đến mức hoàn toàn không biết và không thể hiểu được; cái mới phải bổ sung, phát triển hoặc mâu thuẩn với cái cũ; tóm lại phải là hay, nhờ đó có thể liên tưởng với cái đã biết. - Kích thích và làm thoả mãn cảm giác nội tại đã được kích thích. Tạo nên một tình huống có vấn đề, điều đó có nghĩa là đặt trước học sinh một vấn đề sao cho các em thấy rõ được lợi ích về mặt nhận thức hay mặt thực tế của việc giải quyết nó những đồng thời cảm thấy có một số khó khăn về mặt trí tuệ do thiếu kiến thức cần thiết, nhưng sự thiếu sót này có thể khắc phục được nhờ một nổ lực nhận thức gần tầm với nhất. Thông thường, cơ sở của tình huống có vấn đề là những hiện tượng, những sự kiện vật lí và những mối quan hệ nhân quả giữa chúng mà ta phải nghiên cứu trong giờ học. Tuy nhiên chúng phải xuất hiện trước học sinh dưới những mối quan hệ gây được cho họ 4
  3. những cảm giác ngạc nhiên vì tính bất thường của chúng, vì giá trị nhận thức và thực tiễn cao, vì những liên hệ bất ngờ, vì tính chất nghịch lí, vì tính chất “có vẽ không xảy ra được”, vì tính chất bí ẩn và những đặc điểm khác nữa. Đó là một việc khó vì trong thời đại hiện nay, không phải là dễ làm học sinh ngạc nhiên vì có khá nhiều nguồn thông tin từ sách báo, từ truyền hình và từ mạng Iternet Tuy nhiên, điều này có thể làm được, không phải đặt ra các vấn đề có quy mô lớn mà bằng cách xét các hiện tượng dưới những góc độ khác thường, vạch ra những liên hệ trước đây chưa từng được chú ý Có thể gây tình huống có vấn đề trong vật lí bằng đàm thoại mở đầu đặc biệt, bằng các câu hỏi độc đáo, bằng di chỉ lịch sử, bằng thí nghiệm vui và bằng những phương tiện khác mà giáo viên tuỳ liệu sử dụng. * Ví dụ khi dạy bài “thấu kính mỏng”, vấn đề rõ ràng là mới lạ nhưng giới thiệu một cách đơn giản: “hôm nay ta học bài thấu kính mỏng” sẽ không gây được hứng thú cao vì vấn đề đó không gợi lên một mối liên hệ nào với những điều đã biết từ trước. Ngay việc nêu định nghĩa thấu kính mỏng cũng không gây được hiệu quả cần thiết. Còn bây giờ ý thức và cảm giác của học sinh lớp 11 bị kích động bằng những câu hỏi như: Về mùa hè có thể dùng thấu kính (giáo viên đưa thấu kính ra) để lấy lửa từ ánh sáng mặt trời không? Ở đây phát sinh một tính huống có vấn đề vừa “có vẽ không có được” vì thực tế học sinh chưa thấy ai lấy lửa kiểu này; “vừa có vẽ có” vì thầy giáo đặt vấn đề Tóm lại: muốn học sinh tích cực tiếp thu tài liệu học tập mới cần các điều kiện: - Gây tình huống có vấn đề để lôi cuốn suy nghĩ của học sinh và xác định mục đích chính công việc sắp làm. - Xác định và chính xác hoá các phương hướng cơ bản của hoạt động trí não, đưa đến việc giải quyết vấn đề làm rút ngắn thời gian dò tìm để nhận thức, hợp lí hoá quá trình tư duy của học sinh. - Vạch ra và cũng cố những hướng dẫn cho việc giải quyết cuối cùng vấn đề học tập và cho việc nắm vững những tri thức đã học trong tiến trình giờ học. II. Kích thích hứng thú và chú ý của học sinh bằng các thí nghiệm. Thí nghiệm Vật lý được hiểu theo nghĩa rộng là một trong các phương pháp dạy học Vật lý, là cách thức cộng tác giữa giáo viên và học sinh nhằm đạt được hiệu quả cao nhất 5
  4. trong việc truyền thụ và tiếp thu kiến thức. Đó là phương tiện trực quan, giúp học sinh hình thành những hình tượng cụ thể, phản ánh trung thực các hiện tượng, các qúa trình, quy luật Vật lý. Thí nghiệm vật lý là phương tiện kích thích hứng thú học tập, phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu giáo trình. Ngoài ra, Thí nghiệm vật lý còn có tác dụng to lớn trong việc phát huy năng lực nhận thức của học sinh, giúp các em làm quen với các phương pháp nghiên cứu khoa học, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thực hành. Để tích cực hoá hoạt động của học sinh trong giờ học, cần coi trọng những thí nghiệm nào phát triển tư duy. Về mặt này, rất nhiều điều bị quên đi, khi phương pháp minh hoạ chiếm ưu thế trong việc tổ chức thí nghiệm, trong đó trước tiên người ta giải thích cho học sinh hiểu các hiện tượng vật lí rồi sau đó mới minh hoạ bằng thí nghiệm. Thí nghiệm cũng bị giảm giá trị trong trường hợp tuy có quan sát hiện tượng bắt đầu từ thí nghiệm nhưng học sinh không được chủ động phân tích nó và rút ra kết luận tương ứng. Thí nghiệm không những chỉ dùng để chứng minh định luật vật lí, hoặc để xác nhận một hiện tượng mà còn để giải thích bản chất nội tại của nó nữa. Vì thế mà cần biểu diễn thí nghiệm không chỉ trước, hoặc sau lúc nói mà đồng thời với lúc nói tới nó. Thực ra thí nghiệm không nhất thiết phải có lời kể về nó đi kèm. Lợi ích sẽ lớn hơn nếu đáng lẽ giáo viên nói thì học sinh tự tìm lấy việc giải thích thí nghiệm. Ở đây học sinh là người nghiên cứu các hiện tương vật lí. Họ không chỉ quan sát mà còn phân tích chúng, không chỉ dùng một phương án thí nghiệm mà còn có thể dùng phương án khác. Sau đây là một số thí dụ về sử dung thí nghiệm đơn giản kích thích hứng thú học tập của học sinh. Ví dụ 1: Khi dạy về quá trình đẳng tích (Vật lý 10) có thể tiến hành thí nghiệm sau: Lấy một chiếc cốc uống nước, hoặc một chai thuỷ tinh. Tìm một miếng vải hình vuông, to hơn miệng chai thuỷ tinh dùng làm thí nghiệm, thấm nước cho ẩm, rồi trải lên bàn. Cố định một cây nến lên bàn và châm lửa. úp miệng bình xuống dưới và hơ trên ngọn lửa nến cho không khí trong bình nóng lên. Sau đó nhanh chóng úp bình lên vuông vải ấm. Sẽ thấy bình hút miếng vải lên. Sau khi cho học sinh giải thích, có thể nói thêm đó chính là Bí mật của biện pháp giác hơi Bác sĩ đông y khi trị bệnh cho người bệnh thường dùng 6
  5. Ví dụ 2: Thí nghiệm dùng trong bài Hiện tượng căng bề mặt của chất lỏng. Dùng một dây thép nhỏ uốn thành một hình tròn, lấy một sợi chỉ bông buộc ngang trên vòng thép đó, rồi nhúng tất cả vào trong nước xà phòng một lúc rồi nhấc ra. Sẽ thấy trên vòng thép có dính một lớp màng mỏng nước xà phòng. Nếu bạn dùng que nhỏ chọc thủng màng nhỏ bên trái sợi chỉ thì sợi chỉ sẽ bị màng xà phòng ở phía bên phải kéo, trở thành một vòng cong hướng về phía bên phải; nếu bạn phá màng xà phòng ở bên trái thì sợi chỉ sẽ bị mang xà phòng bên trái kéo về, trở thành một vòng cong hướng về phía bên trái. Nếu buộc sợi sắt một vòng bằng sợi chỉ, cũng ngâm vào nước xà phòng rồi nhấc ra, thì khi phá màng xà phòng trong vòng sợi chỉ nhanh chóng thành một vòng tròn xoe. III. Kích thích hứng thú và chú ý của học sinh bằng các thí nghiệm tự tạo: TN 1: Thí nghiệm đo suất điện động của pin điện hóa làm từ chanh. 1. Mục đích thí nghiệm - Chứng minh mỗi qủa chanh có thể là một nguồn pin điện hóa. - Tạo hứng thú cho học sinh, rèn luyện kĩ năng sử dụng các thiết bị thí nghiệm 2. Dụng cụ - 1 cây đinh, 1 que đồng, một quả chanh. - Một đồng hồ đa năng hiện số. 3. Hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm - Cắm 1 cây đinh và 1 lõi dây đồng vào 1 quả chanh. - Sử dụng đồng hồ đo điện đa năng ta chọn thang đo V ở vị trí 20, cực dương là lỗ cắm “ VΩ” , cực âm là lỗ cắm “ Com” - Dùng dây dẫn nối cực dương của đồng hồ với dây Cu, cực âm của đồng hồ cây đinh thì số chỉ của đồng hồ là 0,87V 7
  6. Hình ảnh : Đo suất điện động của pin làm từ chanh -Nếu nối cực dương của đồng hồ với cây đinh, cực âm của đồng hồ dây đồng thì số chỉ của đồng hồ là - 0,87V. * Kết luận: - Hệ quả chanh, cây đinh và dây đồng là một pin điện hóa với cực dương là dây đồng, cực âm là cây đinh. TN2. BÀI 10: GHÉP CÁC NGUỒN ĐIỆN THÀNH BỘ 1. Mục đích: - Chứng minh công thức tính suất điện động của bộ nguồn ghép nối tiếp, ghép song song. - Rèn luyện kĩ năng sử dụng các thiết bị điện, thao tác thực hành nhanh nhẹn, nhạy bén. 2. Chuẩn bị dụng cụ - Đồng hồ đo điện đa năng, các dây nối - Các nguồn điện ( 2 pin 1,5V) 3. Hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm - Sử dụng đồng hồ đo điện đa năng ta chọn thang đo V ở vị trí 20, cực dương là lỗ cắm “ VΩ” , cực âm là lỗ cắm “ Com” - Dùng dây dẫn nối cực dương của đồng hồ với cực dương của pin, cực âm của đồng hồ với cực âm của pin. Đọc giá trị đo được. a. Bộ nguồn ghép nối tiếp: - Ghép 2 nguồn (2 pin) nối tiếp với nhau. - Dùng đồng hồ đo hiệu điện thế giữa 2 mối nối. - Yêu cầu hs nhận xét 8
  7. * Kết luận: - Suất điện động của bộ nguồn ghép nối tiếp bằng tổng suất điện động của hai nguồn. b. Bộ nguồn ghép song song: - Ghép 2 nguồn (2 pin) song song với nhau. - Dùng đồng hồ đo hiệu điện thế giữa 2 mối nối. - Yêu cầu hs nhận xét Hình ảnh : Đo suất điện động của 2 pin ghép song song * Kết luận: - Như vậy suất điện động của bộ nguồn ghép song song bằng suất điện động của mỗi nguồn. TN3: Hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm đơn giản về hiện tượng đoản mạch IV. Kích thích hứng thú và chú ý của học sinh bằng các bài tập thực tế. 9
  8. Để tạo hứng thú học tập cho học sinh có thể dùng nhiều nhiều kênh: hình ảnh, âm thanh, hiệu ứng vi tính, bài tập định tính, bài tập thực tế... Mục tiêu giáo dục trong thời đại mới là không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những kiến thức, kỹ năng có sẵn cho học sinh mà điều đặc biệt quan trọng là phải bồi dưỡng cho họ năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, để từ đó có thể sáng tạo ra những tri thức mới, phương pháp mới, cách giải quyết vấn đề mới, góp phần làm giàu thêm nền kiến thức của nhân loại. Bài tập vật lý là một phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong rèn luyện tư duy, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh. Bởi vì, giải bài tập vật lý là hình thức làm việc tự lực căn bản của học sinh, trong khi giải bài tập, học sinh phải phân tích điều kiện đề bài, lập luận logic, thực hiện các phép toán để kiểm tra các kết luận của mình. Trong những điều kiện như vậy tư duy sáng tạo của học sinh sẽ được phát triển, năng lực làm việc của học sinh sẽ được nâng cao. “Trong thực tiễn dạy học, bài tập vật lý được hiểu là một vấn đề được đặt ra đòi hỏi phải giải quyết nhờ những suy nghĩ logic, những phép toán và những thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật và phương pháp vật lý. Hiểu theo nghĩa rộng thì mỗi vấn đề xuất hiện do nghiên cứu tài liệu giáo khoa cũng chính là một bài tập đối với học sinh. Sự tư duy định hướng một cách tích cực luôn là việc giải bài tập vật lý” - Bài tập thực tế: Bài tập vật lí thực tế là các bài tập vật lí có nội dung liên quan đến các vấn đề thực tế trong đời sống, sản xuất, lao động và ứng dụng trong thực tiễn. Trong quá trình dạy học, giáo viên giúp học sinh nắm được phương pháp chiếm lĩnh kiến thức, phương pháp hoạt động học tập (nhận thức) cũng như phương pháp hoạt động trong cuộc sống xã hội. Qua việc tự dành lấy kiến thức thì ở học sinh sẽ hình thành, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, năng lực giải quyết vấn đề. Nói cách khác học sinh phát triển trong hoạt động và học tập diễn ra trong hoạt động. Vì lẽ đó, học sinh cần phải được huấn luyện ngay từ khâu xây dựng kiến thức cho đến khâu vận dụng nó vào trong thực tế. 10
  9. Giải bài tập vật lý là một trong những hình thức luyện tập chủ yếu và được tiến hành nhiều nhất trong hoạt động dạy học. Do vậy, bài tập vật lý có tác dụng cực kì quan trọng trong việc hình thành, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng và tìm tòi kiến thức cho học sinh. Chúng được sử dụng trong những tiết học với những mục đích khác nhau: - Bài tập vật lý được sử dụng như là các phương tiện nghiên cứu tài liệu mới, khi trang bị kiến thức mới cho học sinh nhằm đảm bảo cho học sinh lĩnh hội kiến thức mới một cách sâu sắc và vững chắc. - Bài tập vật lý là phương tiện rèn luyện cho học sinh kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức, liên hệ lý thuyết với thực tiễn, học tập với đời sống. - Bài tập vật lý là một phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc rèn luyện tư duy, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh. Bởi vì, giải bài tập vật lý là hình thức làm việc tự lực căn bản của học sinh. Trong quá trình giải bài tập vật lý học sinh phải phân tích điều kiện trong đề bài, tự xây dựng những lập luận, thực hiện việc tính toán, khi cần thiết phải tiến hành cả thí nghiệm, thực hiện các phép đo, xác định sự phụ thuộc hàm số giữa các đại lượng để kiểm tra các kết luận của mình. Trong những điều kiện đó tư duy logic, tư duy sáng tạo của học sinh được phát triển, năng lực làm việc độc lập của học sinh được nâng cao. - Bài tập vật lý là phương tiện ôn tập và củng cố kiến thức đã học một cách sinh động và có hiệu quả. - Thông qua giải bài tập vật lý có thể rèn luyện được những đức tính tốt như: tính độc lập, tính cẩn thận, kiên trì, vượt khó... - Bài tập vật lý là phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng của học sinh một cách chính xác. Trong bài tập vật lí thì bài tập thực tế có nội dung sát với thực tiển của học sinh nên dể dàng tập trung được sự chú ý của học sinh và gây ra hứng thú làm việc ở họ. Ta có thể sử dung bài tập thực tế để gây hứng thú học tập của học sinh qua các hình thức: + Sử dụng bài tập thực tế trong đặt vấn đề: 11
  10. Thí dụ: khi dạy bài “chuyển động ném ngang” ta cơ thể mở đầu bằng bài tập: “Một diễn viên đóng phim được đạo diễn yêu cầu diên viên nam nhảy từ tầng thượng toà nhà A sang tầng thượng toà nhà B có độ cao thấp hơn 1m. Khoảng cách giữa 2 toà nhà là 2 m. Tốc độ chạy trung bình của diễn viên là 12km/h. Trước khi nhảy diên viên muôn kiểm tra mình có nhảy qua được không? Là thế nào để kiểm tra điều đó. + Sử dung bài tập thực thế trong tiết bài tập: Khi dạy về vấn đề truyền tải điện năng ta có thể sử dụng bài tập sau: “Điện năng từ một trạm phát điện được đưa đến một khu tái định cư bằng đường dây truyền tải một pha. Cho biết, nếu điện áp tại đầu truyền đi tăng từ U lên 2U thì số hộ dân được trạm cung cấp đủ điện năng tăng từ 120 lên 144. Cho rằng chi tính đến hao phí trên đường dây, công suất tiêu thụ điện của các hộ dân đều như nhau, công suất của trạm phát không đổi và hệ số công suất trong các trường hợp đều bằng nhau. Nếu điện áp truyền đi là 4U thì trạm phát huy này cung cấp đủ điện năng cho bao nhiêu hộ dân?” + Sử dụng bài tập thực tế trong cũng cố và khắc sâu kiến thức: Có nhiều hình thức cùng cố kiến thức sau khi hoàn thành tiết dạy, tôi nghĩ sử dụng bài tập thực tế hợp lí sẽ có tác dụng to lớn. Ví dụ: sau khi dạy bài “chuyển động ném ngang” giáo viên có thể yêu cầu học sinh “Làm thế nào để xác định được tốc độ của hòn đá ngay sau khi rời tay trong qúa trình ném” . Rõ rằng đây là vấn đề thực tế học sinh rất muốn được quan tâm. IV. Kích thích hứng thú và chú ý của học sinh nhờ công nghệ và tin học. Trong qúa trình đổi mới phương pháp dạy học thì việc sử dụng tin học, các hiệu ứng mà bài giảng điệ tử màng lại, các chương trình mô phong, các video học tập sẽ mang lại hứng thú hạp tập rất cao và đạt nhiều hiệu quả ngoài mong muốn. Thí dụ: sử dung chương trình mô phỏng chuyển động nhiệt của phân tử khi dạy bài “Thuyết động học phân tử”, Sử dung vidio để mô ta sức mạnh cơ năng của nước biên trong sóng thần, Dùng mô phỏng các hiện tượng điện, quang... đều kích thích hứng thú học sinh về môn học. Khi sử dụng tin học và máy chiếu cần pahỉ lưu ý các vấn đề sau, nếu không sẽ phản tác dụng. 12
  11. - Những thí nghiệm vật lí thực hiện được phải thực hiện và chương trình mô phỏng chỉ có giá trị hổ trợ. - Nên sử dung video và mô phỏng đối với những quá trình diễn ra rất nhanh hoặc rất chậm trong thực tế. - Tranh biến giờ học thành giờ xem phim. Nói tóm lại sử dụng công nghệ và tin học một cách hợp lí sẽ làm tăng hững thú học tập cho học sinh 13