Báo cáo Biện pháp Hình thành và phát triển năng lực tự chủ, tự học cho học sinh Lớp 1

docx 25 trang Chăm Nguyễn 06/01/2026 110
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Biện pháp Hình thành và phát triển năng lực tự chủ, tự học cho học sinh Lớp 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_bien_phap_hinh_thanh_va_phat_trien_nang_luc_tu_chu_t.docx
  • pdfBáo cáo Biện pháp Hình thành và phát triển năng lực tự chủ, tự học cho học sinh Lớp 1.pdf

Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Hình thành và phát triển năng lực tự chủ, tự học cho học sinh Lớp 1

  1. 3 + Tự học, tự hoàn thiện: Có ý thức tổng kết và trình bày được những điều đã học, nhận ra và sửa chữa sai sót trong bài kiểm tra qua lời nhận xét của thầy cô, có ý thức học hỏi thầy cô, bạn bè và người khác để củng cố và mở rộng hiểu biết, có ý thức học tập và làm theo những gương người tốt. Bậc học tiểu học là bậc học nền tảng đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của con người. Học sinh vào học lớp Một là thời điểm đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc sống và phát triển tâm lí. Rèn năng lực tự chủ, tự học cũng là rèn kĩ năng sống, rèn khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống, giúp học sinh biết giải quyết các vấn đề cơ bản một cách tự lập. Tuy nhiên, qua thời gian chủ nhiệm lớp, tôi nhận thấy phần lớn các em thiếu kiến thức về kĩ năng sống, mà trong đó kĩ năng cơ bản nhất là kĩ năng tự chủ, tự học. Chính vì những lý do trên, tôi mạnh dạn đưa ra: “BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂNNĂNG LỰC TỰ CHỦ, TỰ HỌC CHO HỌC SINH LỚP 1” với mong muốn góp phần thực hiện tốt hơn nữa Chương trình giáo dục phổ thông 2018. 2. Thời gian, giới hạn, phạm vi - Thời gian thực hiện: Từ tháng 02/2022 đến tháng 3/2023 - Đối tượng: Học sinh lớp 1 - Phạm vi: Trường Tiểu học Thái Hòa PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng Ngay từ đầu năm học 2021- 2022 và năm học 2022- 2023, tôi đã phát phiếu thăm dò tới phụ huynh về các biểu hiện quan sát được ở năng lực tự chủ, tự học. Căn cứ vào quá trình quan sát và kết quả của phiếu thăm dò, tôi nhận ra những thuận lợi và khó khăn trong việc hình thành và phát triển năng lực tự chủ, tự học cho học sinh lớp 1.
  2. 4 PHIẾU THĂM DÒ NĂNG LỰC TỰ CHỦ, TỰ HỌC Họ và tên phụ huynh: .. Họ và tên học sinh: Lớp: . Dưới đây là những biểu hiện hành vi có thể quan sát thấy ở một học sinh. Phụ huynh hãy đọc kỹ từng câu và đánh giá xem con mình thực hiện ở mức độ nào? (chỉ chọn 1 trong 3 mức độ) Mức độ 1: Cần cố gắng (C) Mức độ 2: Đạt (Đ) Mức độ 3: Tốt (T) Các biểu hiện cụ thể được quan sát ở Mức độ STT năng lực tự chủ, tự học 1 2 3 1 HS tự vệ sinh thân thể, ăn, mặc gọn gàng sạch sẽ 2 HS tự chuẩn bị đồ dùng học tập cá nhân ở trên lớp, ở nhà 3 HS tự giác hoàn thành công việc được giao đúng hạn 4 HS chủ động khi thực hiện các nhiệm vụ học tập HS tự sắp xếp thời gian học tập, sinh hoạt cá nhân, vui 5 chơi hợp lí HS tự sắp xếp thời gian làm các bài tập theo yêu cầu của 6 giáo viên Mọi thông tin Quý phụ huynh cung cấp được bảo mật và chỉ dùng cho mục đích khảo sát của giáo viên chủ nhiệm nhằm đưa ra các biện pháp phù hợp để hình thành và phát triển năng lực tự chủ, tự học cho học sinh lớp 1A. Rất mong nhận được sự hợp tác của Quý phụ huynh!
  3. 5 1.1. Thuận lợi - Các em nhận được sự quan tâm hết mực của cha mẹ, được trang bị tương đối đầy đủ về đồ dùng học tập. - Giáo viên chủ nhiệm đã có hơn 5 năm làm công tác chủ nhiệm, luôn quan tâm đến việc rèn nề nếp học tập cho học sinh. - Ban lãnh đạo nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao việc rèn nề nếp học tập và năng lực tự chủ, tự học cho học sinh. 1.2. Khó khăn - Học sinh chưa biết tự chuẩn bị và tự quản đồ dùng học tập cá nhân ở lớp, ở nhà. - Các em chưa thực sự tự giác thực hiện theo yêu cầu nhóm, lớp và cả giáo viên. - Việc bố trí thời gian học tập và sinh hoạt chưa phù hợp; kết quả về học tập cũng không đồng đều. 1.3. Nguyên nhân - Đa số cha mẹ các em đều làm công nhân, một số đi làm ăn xa nên thời gian sinh hoạt ở nhà rất ít cũng ảnh hưởng đến việc hình thành năng lực tự chủ, tự học cho các em. - Học sinh phải học nhiều môn, nhưng môn học nào cũng mới mẻ đối với các em nên gây nhiều lúng túng cho các em trong mỗi giờ học. Nhiều em chưa có thói quen trong việc tự chuẩn bị sách, vở, chưa biết cách sử dụng bảng con, đồ dùng học tập. - Ban cán sự lớp chưa thật sự hiểu rõ được nhiệm vụ của mình và cũng chưa được bồi dưỡng khả năng tự quản lớp. - Giáo viên chủ nhiệm còn tự đánh giá năng lực, phẩm chất cho học sinh dựa trên trực giác của mình mà chưa căn cứ vào bảng tham chiếu đánh giá năng lực học sinh. Với những biểu hiện trên, lớp học chưa có nề nếp, không khí lớp học nặng nề, giáo viên giảng dạy hết sức vất vả, tiết học kéo dài lấn thời gian của tiết sau, hiệu quả tiết học chưacao.
  4. 6 2. Vai trò, ý nghĩa của việc hình thành và phát triển năng lực tự chủ, tự học. Trong quá trình dạy học, giáo viên luôn giữ một vai trò quan trọng đặc biệt không thể thiếu được đó là sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh. Nhưng thực tế cho thấy rằng, dù giáo viên có kiến thức uyên thâm đến đâu, phương pháp giảng dạy hay đến mấy nhưng học sinh không chịu đầu tư thời gian, không có sự lao động của cá nhân, không có niềm khao khát với tri thức, không có sự say mê học tập, không có kế hoạch và phương pháp học tập hợp lí, không tự giác tích cực trong học tập thì việc học tập không đạt kết quả cao được. Chính vì vậy, năng lực tự chủ, tự học là một trong những năng lực được đánh giá là quan trọng và lấy đó làm cơ sở để đánh giá năng lực, phẩm chất ngay từ bậc tiểu học. Tự chủ, tự học giúp cho mọi người khẳng định năng lực, phẩm chất và để cống hiến. Tự chủ, tự học giúp con người thích ứng với mọi hoàn cảnh. 3. Các giải pháp thực hiện 3.1. Giải pháp thứ nhất: Phát triển năng lực tự chủ cho học sinh Để phát triển năng lực tự chủ cho học sinh, tôi đã tiến hành theo các bước như sau: ➢ Thu thập thông tin của học sinh qua dữ liệu đầu năm học, trao đổi với cô giáo mầm non lớp 5 tuổi để nắm rõ học sinh. ➢ Tạo lập nhóm Zalo chung giữa giáo viên và học sinh để hình thành kênh giao tiếp, liên lạc và trao đổi. ➢ Tiến hành phân tổ, nhóm trong lớp. ➢ Xây dựng đội ngũ Ban cán sự lớp và giao nhiệm vụ. ➢ Thường xuyên trao đổi với Ban cán sự lớp để biết cụ thể tình hình của từng học sinh trong lớp và khả năng tự quản của Ban cán sự lớp. Cuộc đối thoại có thể thường bắt đầu bằng các gợi ý “mềm” của giáo viên: “Theo các em thế nào là ăn mặc gọn gàng, sạch sẽ?” hoặc “Các em vi phạm nội quy của trường sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tập thể lớp?” Để các em tự nói cũng là cách để các em tự đòi hỏi bản thân mình phải tự điều chỉnh làm sao cho đúng.
  5. 7 GVCN thường xuyên tổ chức các cuộc “đối thoại nóng” với Ban cán sự lớp ➢ Hướng dẫn học sinh thực hiện nề nếp, nội quy của lớp: hướng dẫn học sinh thực hiện nề nếp, nội quy của lớp theo từng thời điểm: Chuẩn bị đi học, Trong mười lăm phút đầu giờ, Trong giờ học, Trong giờ ra chơi, Giờ tan học, Trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Học sinh thực hiện có nề nếp trong giờ học
  6. 8 Và các hoạt động ngoài giờ lên lớp 3.2. Giải pháp thứ hai: Giáo dục năng lực tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu chính đáng ➢ Trong các giờ học, đặc biệt là tiết Đạo Đức và Hoạt động trải nghiệm, tôi đã lồng ghép quyền con người và việc bảo vệ nhu cầu chính đáng của học sinh trong nội dung các bài học liên quan đến các chủ đề phù hợp như: Kỹ năng tự nhận thức, quản lý bản thân; Kỹ năng tự bảo vệ; nhân ái; chăm chỉ; trung thực ➢ Hình thức tổ chức tiết học Đạo đức và Hoạt động trải nghiệm được tiến hành thông qua hoạt động: làm việc nhóm, đóng vai .. HS được tham gia đóng vai trong tiết học Đạo đức
  7. 9 ➢ Khi kết thúc các tiết học về Đạo đứcvà Hoạt động trải nghiệm, tôi ghi ra một số lưu ý với phụ huynh để phối hợp cùng phụ huynh hướng dẫn thêm cho học sinh hiểu. Học sinh biết bảo vệ bản thân khi có người lạ và biết thể hiện mong muốn bản thân khi có lý do chính đáng. 3.3. Giải pháp thứ ba: Giáo dục năng lực tự kiểm soát tình cảm, thái độ, hành vi của mình Bước vào bậc tiểu học, học sinh gặp rất nhiều bỡ ngỡ do phải chuyển đổi hoạt động chủ đạo, chuyển đổi môi trường và chuyển đổi các mối quan hệ. Chính vì vậy, ở học sinh xuất hiện những khó khăn tâm lý gây cản trở quá trình học tập. Vì vậy trong quá trình dạy học, tôi rất chú trọng đến việc quan sát thái độ, tâm lý của học sinh. Từ đó tôi chia ra thành hai nhóm: Nhóm thứ nhất: Khó khăn tâm lí trong các mối quan hệ xã hội như quan hệ giữa HS với cô giáo, bạn bè; giữa HS với nhau và giữa HS với nhóm bạn. Ví dụ không dám gần cô giáo, hờn dỗi cô giáo khi không được khen, bắt nạt bạn, cãi nhau, trêu trọc bạn ..) Nhóm thứ hai: Khó khăn tâm lý thể hiện trong chính những đòi hỏi của hoạt động học tập. Ví dụ như không dám giơ tay phát biểu, không tập trung
  8. 10 chú ý được lâu, chưa biết cách diễn đạt, lúng túng, phản ứng chậm trước những yêu cầu của cô giáo, khó ngồi lâu một chỗ, nói chuyện trong giờ học . Từ việc phân nhóm này, tôi có kế hoạch trao đổi với từng em học sinh và phối hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh trong việc giáo dục. ❖ Tổ chức nhiều hoạt động phong trào cho các em tham gia sinh hoạt. Thông qua hoạt động này các em sẽ mạnh dạn, bình tĩnh, tự làm chủ hơn. Các phong trào cần tạo điều kiện cho các em đều tham gia, cùng vui chơi, không tham gia với hình thức khán giá, không để tình trạng chỉ có một số em tham gia là chính. Nếu không thì một số em sẽ không được rèn luyện từ đó các em sẽ không có sự mạnh dạn, tự tin ❖ Trong các hoạt động phong trào, tôi thường đề ra những công việc vừa sức cho các em, nếu ngay từ đầu mà các em HS được giao một việc ngoài khả năng, thì các em sẽ mất bình tĩnh, tâm lý lo sợ, mất tự tin ❖ Trong các hoạt động phong trào, cần để các em là người chủ động, tự quản, còn tôi chỉ làm các công việc giám sát, hướng dẫn và giúp đỡ. ❖ Quan tâm nhiều hơn đến các em còn nhút nhát, không dám xung phong, thường xuyên giao việc và hỏi những câu hỏi dễ đối với các em học sinh này, để dần dần các em tự tin. ❖ Thường xuyên động viên các em HS thiếu tự tin, chưa mạnh dạn thể hiện ý kiến của mình. Căn cứ vào tâm lý lứa tuổi và năng khiếu của các em, tôi lựa chọn những trò chơi phù hợp cho môn học và những trò chơithể thao ngoài giờ lên lớp phù hợp với các em hơn. Khi các em tham gia vào hoạt động trò chơi, thể thao sẽ giúp các em được giao lưu với bạn bè. Từ đó các em sẽ tự tin hơn, năng động hơn.
  9. 11 Học sinh chơi trò chơi trong giờ học. Học sinh chơi trò chơi thể thao ngoài giờ lên lớp
  10. 12 Học sinh biểu diễn văn nghệ chào mừng ngày 20/11 Thông qua các hoạt động này các em sẽ mạnh dạn, bình tĩnh, tự làm chủ hơn. 3.4. Giải pháp thứ tư: Giáo dục năng lực tự định hướng nghề nghiệp Để thực hiện được việc giáo dục năng lực tự định hướng nghề nghiệp đối với các em học sinh lớp 1, tôi đã tiến hành như sau: Chương trình lớp 1 theo CTGDPT2018, các em sẽ có thêm các tiết học kỹ năng, hoạt động ngoài trời. Tôi đã tự chủ, sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động cho học sinh:cho các em tham gia những buổi trải nghiệm, “vào vai”' các vở kịch, chia sẻ thêm về công việc, nghề nghiệp trong các tiết dạy. Cụ thể, trong các hoạt động, tôi cho HS chơi trò chơi dân gian, đóng kịch Các em sẽ được vào các vai như giáo viên, bác sĩ, kỹ sư, chú bộ đội Nếu được nghe, trải nghiệm và giáo viên chia sẻ thường xuyên, các em sẽ có được những nhận thức cơ bản đầu tiên về những công việc, nghề nghiệp. Với lứa tuổi bậc tiểu học, các em chỉ cần tiếp cận tới đây là đủ, lên các cấp THCS, THPT, HS sẽ được định hướng rõ ràng hơn.
  11. 13 Trong các hoạt động trải nghiệm, các em được tham gia đóng vai bác sĩ, công an, ; được giáo viên giới thiệu về các nghề nghiệp trong các tiết sinh hoạt lớp. Bên cạnh đó, trong các tiết sinh hoạt, các buổi học ngoài trời, tôi tổ chức các buổi cho các em giới thiệu với nhau, nói chuyện với bạn bè về gia đình mình, nghề nghiệp của người thân trong gia đình. Để thực hiện được điều này, tôi đã chủ động trao đổi phụ huynh, nắm bắt tình hình của từng gia đình học sinh.