Báo cáo Biện pháp Giúp học sinh rèn kĩ năng đọc trong phân môn tập đọc
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Biện pháp Giúp học sinh rèn kĩ năng đọc trong phân môn tập đọc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_bien_phap_giup_hoc_sinh_ren_ki_nang_doc_trong_phan_m.doc
Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Giúp học sinh rèn kĩ năng đọc trong phân môn tập đọc
- Hiểu được tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng đọc – một vấn đề đang được quan tâm ở lớp 2, tôi đã tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm của các thầy cô đi trước để đưa ra một số biện pháp rèn kĩ năng đọc hợp lí góp phần đem lại hiệu quả học tập cho học sinh. Do đó, tôi chọn đề tài: “Biện pháp giúp học sinh rèn kĩ năng đọc trong phân môn tập đọc” để nghiên cứu. II. NỘI DUNG 1. Thực trạng của vấn đề Tập đọc là một phân môn trong chương trình Tiếng việt 2, là một phân môn thực hành. Thông qua phân môn này hình thành kĩ năng/năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc gồm 4 yêu cầu chất lượng đọc: đọc đúng, đọc nhanh (trôi chảy, mạch lạc), đọc có ý thức (đọc hiểu), đọc hay (đọc diễn cảm). Bốn yêu cầu này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Ngoài ra, dạy đọc còn nhằm giáo dục lòng ham đọc sách của các em. Việc dạy đọc sẽ bồi dưỡng tâm hướng thiện, yêu cái đẹp, thông qua đó giáo dục tư tưởng đạo đức cho học sinh. Thế nhưng, phân môn này ở trường tiểu học đang chưa được hiểu đúng vấn đề. GV lẫn HS còn xem nhẹ phân môn này, dẫn tới là nhiều em không đọc tốt hay là không biết đọc và kết quả cuối cùng là làm mất hứng thú học tập ở các em. Chính bản thân GV đọc mẫu đôi khi còn qua loa, chưa tìm hiểu bài tập đọc sẽ dạy vào ngày mai; khi hướng dẫn đọc, GV chưa hướng dẫn tận tình, chưa thật sự quan tâm đến học sinh có khó khăn về đọc. HS đọc chưa tốt, đọc chậm, đọc sai, trả lời chưa thành câu thường bị GV bỏ quên mất, vì các em đó sẽ làm ảnh hưởng đến thời gian tiết học, dẫn đến GV sẽ không gọi đến các em, mà các em mới từ lớp 1 (giai đoạn đầu của việc học đọc).Từ đó dẫn đến giờ dạy hiệu quả chưa. GV chưa phối hợp rèn các kĩ năng đọc, chưa chú trọng và đầu tư cho tiết tập đọc, chưa nắm được trọng tâm của phân môn này. 3
- Bên cạnh đó, học sinh đọc bài một cách thụ động, thậm chí có những em đọc to, rõ ràng, nhưng khi được hỏi lại thì không nắm được nội dung bài đọc là gì. Bên cạnh đó, các em vừa học ở lớp 1 lên, do đó tốc độ của các em còn chậm, chưa đạt yêu cầu, một số em chưa nhận diện được mặt chữ, hay quên âm vần vì hổng kiến thức phần học vần ở lớp 1. Ở nhà 3 tháng hè các em không học bài, không ôn lại nội dung bài học ở lớp 1 nên cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đọc nói riêng. 2. Giải pháp thực hiện Sau đây là một số biện pháp thực hiện của đề tài: 1. Bồi dưỡng hứng thứ, tình yêu Tiếng Việt, yêu văn học, yêu ngôn ngữ cho học sinh. Bồi dưỡng hứng thú học là công việc quan trọng trong sự nghiệp giáo dục. Hứng thú giúp học sinh say mê và yêu thích Tiếng Việt nói chung và kĩ năng đọc nói riêng. Hứng thú học trước hết được tạo ra bằng cách làm cho học sinh ý thức được lợi ích của việc đọc tốt để tạo động lực học tập. Với mỗi bài cụ thể, GV cần giúp học sinh nhận ra lợi ích và sự vận dụng của bài vào thực tiễn. Không có con đường nào khác làm nảy sinh và duy trì hứng thú của các em với tiếng mẹ đẻ và môn Tiếng Việt ngoài cách làm cho các em thấy được sự thú vị, vẻ đẹp văn chương trong các bài tập đọc, vẻ đẹp ngôn từ trong các bài luyện từ và câu .2. Tạo hứng thú có nhiều cách: Giới thiệu bài bằng nhiều cách hay và hấp dẫn. Giúp HS nhận ra lợi ích của việc đọc trôi chảy, rành mạch. Giúp HS nhận ra được vẻ đẹp của từ, tình tiết trong câu chuyện, các bài tập đọc, biết cách khai thác đặc điểm của tiếng/từ/câu qua các bài mở rộng vốn từ. 4
- Cho HS tiếp xúc với các tác phẩm văn chương, bằng cách cung cấp thêm các cuốn sách văn học thiếu nhi ở góc thư viện lớp, góc Tiếng Việt. Sử dụng thông tin ngoài giờ lên lớp thông qua các trang web học. Hình thức tổ chức dạy học kết hợp các PPDH tích cực hoá nhằm khơi gợi sự hứng thú của các học sinh. Tạo mối quan hệ giữa thầy trò, trò trò tốt. Đề cao sự sáng tạo học sinh, các câu trả lời mang tính thực tiễn hơn. 3. Bồi dưỡng vốn sống cho học sinh. Bồi dưỡng vốn sống: Tổ chức các buổi tham quan ngoại khoá, vườn trường, thư viện trường. thư viện lớp. Tổ chức thi đua ngâm thơ (cái bài thơ trong sách Tiếng việt), thi đọc diễn cảm, thi kể chuyện, thi các trò chơi Tiếng Việt (hái hoa dân chủ, tìm tiếng, tiếp sức..) Xây dựng cho các em hứng thú và thói quen đọc sách (1 quyển truyện/ sách – báo Nhi Đồng/1 tuần). Khuyến khích HS mua báo Nhi Đồng, làm bài Lê Quý Đôn, sau đó là đọc các bài, nêu cảm nhận hay đơn giản hơn là ghi lại các tiếng/từ/cụm từ/câu hay vào sổ tay. Sách báo giúp các em có vốn sống, hiểu biết nhiều hơn về thế giới bên ngoài, giúp học sinh phát triển tối đa sự sáng tạo. Cách ghi chép sổ tay văn học: mỗi bài tập đọc hướng dẫn các em ghi chép nội dung/các từ/nhân vật hay vào sổ tay. 4. Giáo viên tổ chức dạy đọc và phát triển ngôn ngữ 5
- • Rèn kĩ năng nói Nói và đọc là hai phạm trù tương trợ lẫn nhau trong phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Kĩ năng này cần được giáo dục trong mọi lúc mọi nơi, trong tất cả các tiết học. Đây là kĩ năng hỗ trợ rất nhiều cho việc đọc nếu được luyện tốt. Đặc biệt GV cần luyện cho HS: + Nói rõ + Nói to + Nói tròn câu + Nói tự nhiên Ngoài ra, ở các địa phương GV không nên ép HS nói đúng chuẩn, nên tập trung vào những lỗi phát âm hay lỗi ngọng. • Luyện phát âm đúng: Đầu tiên, GV phải dạy HS nghe và phát âm đúng, từ đó mới dẫn tới đọc mạch lạc. Phát âm đúng được hiểu là dạy trẻ phát âm đúng những thành phần trong tiếng, không lắp, âm lượng to vừa đủ nghe. Khi dạy phát âm, GV phát âm mẫu, HS tập trung lắng nghe giáo viên phát âm rồi HS phát âm theo. • Rèn các kĩ năng tập đọc GV khi dạy tập đọc cho học sinh nên chú trọng đến các kĩ năng: + Hướng dẫn phát âm, nhận diện chữ/âm/dấu thanh + Đọc trơn tiếng + Đọc trơn từ, câu 6
- + Đọc trơn bài + Đọc ngắt nghỉ đúng chỗ Ở đây GV phải xác định đúng mẫu ngắt giọng của một bài tập đọc. Có như vậy, HS mới tiếp nhận được bài tập đọc một cách hoàn chỉnh. Như vậy, thì GV phải đọc mẫu. GV đọc mẫu là trực quan sinh động và gây hứng thú cho trẻ. Nó có tác dụng làm cho các em bắt chước theo. Khi đọc người GV đọc đúng, đọc chuẩn (không đọc theo phương ngữ địa phương của bản thân mình hay của đại đa số học sinh cho các em dễ hiểu), rõ ràng, trôi chảy, mạch lạc, chú ý ngắt nghỉ hơi đúng, lên giọng/hạ giọng, GV cũng cần chú ý nét mặt, thái độ của mình..để làm nổi bật nhân vật/các ý của tác giả. Từ đó, giúp các em hứng thú việc đọc hiểu và có ý thức đọc bài trôi chảy, mạch lạc. GV nên sử dụng tranh ảnh vật thật sử dụng trong các tiết tập đọc. Giáo viên khi được phân công lớp phải về tìm hiểu kĩ chương trình SGK, các tài liệu. Giáo viên phải nắm được trình độ “đọc” của học sinh từ những ngày đầu nhận lớp, đặc điểm sinh lí mỗi em, trình độ của học sinh. Tìm hiểu tại sao em đó lại đọc không tốt, lí do gì, em nào phát âm sai, em nào phát âm không chuẩn, sau đó đề ra giải pháp cho từng em một, vì mỗi một em là một cá thể, không em nào giống em nào. Cách giáo dục, cách tiếp cận vấn đề cũng khác đi. Giáo dục là một quá trình lâu dài, không phải ngày một ngày hai. Và rèn đọc cho HS là một việc cần sự kiên nhẫn của người GV. + Đọc thầm - Đọc hiểu 7
- Phần Tìm hiểu bài ứng với rèn HS đọc thầm và đọc - hiểu văn bản. Đọc thầm tốt giúp HS có thể học 6a5p tốt các môn học khác cũng như vận dụng hiểu biết văn bản vào thực tiễn. Trong thực tể, khi dạy kĩ năng đọc ở HS luôn diễn ra quá trình chuyển hoá từ đọc thành tiếng sang đọc thầm, chuyển từ đọc to sang đọc bằng mắt, từ ngôn ngữ bên ngoài chuyển hoá thành ngôn ngữ bên trong, đây là quá trình cần thiết. Đọc thầm - Đọc hiểu đây là hai quá trình có mối quan hệ mật thiết với nhau Đối với phần đọc hiểu, ta cần nắm được học sinh của mình khó hiểu những từ ngữ/ câu/ đoạn/nội dung nào trong bài Tập đọc Sự hiểu biết này sẽ giúp người GV xác định tính vừa sức khi dạy.Nếu GV đảm bảo các quy trình nói trên trong dạy kĩ năng đọc cho HS, nhịp độ được lặp lại 3 tiết tập đọc 1 tuần (và trong các tiết các môn học khác) như vậy, trẻ sẽ được mài giũa và rèn luyện liên tục, các em sẽ nắm rõ và ghi nhớ các từ, các bài từ đó sẽ thích đọc. 5. Giáo viên luôn luôn động viên, khuyến khích học sinh: Luôn biết khích lệ, biểu dương các em kịp thời nhất là HS cá biệt/HS chậm/HS hoà nhập/HS chưa đạt chuẩn làm cho các em tự hào với các bạn, từ đó thúc đẩy các em cố gắng phấn đấu rèn luyện hơn. Hãy khen ngợi những ưu điểm sở trường của các em để các em thấy giá trị của mình được nâng cao, có niềm tin và hứng thú học tập hơn. Giáo viên cần tuyên dương những khi các em có sự tiến bộ dù chỉ một ít giúp các em tự tin với bản thân. Chẳng hạn trong giờ học Tiếng Việt thì khen những em có giọng đọc diễn cảm, có vốn từ phong phú hay kể chuyện hay, tự tin, có 8
- sáng tạo. HS sẽ thành công khi GV chỉ ra nhiều lỗi sai của em hay là chú trọng vào quá trình cố gắng. Chẳng hạn, khi học sinh phát biểu đọc bài, thì sẽ có em đọc sai, có 2 trường hợp. GV thứ nhất giận dữ, mất bình tĩnh, sẽ buông lời chê bai thái quá ngay giữa lớp. GV thứ hai nghe em học sinh đọc xong, nhẹ nhàng sửa sai và không quên khích lệ, động viên: Hôm nay, em A đã có sự cố gắng, cô có lời khen, phát huy thêm nhé! Qua 2 trường hợp trên, thì người HS thứ hai sẽ cảm thấy vui vẻ, HS hứng thú, tạo tâm lý thoải mái, tự tin trong học tập và cảm thấy sự cố gắng của mình được công nhận. Còn HS thứ nhất thì sẽ không phát biểu nữa cũng như không thích đọc dẫn đến không thích học. Đôi khi, giáo viên nên có những phần thưởng nho nhỏ cho học sinh có cố gắng, có tiến bộ trong lớp, có thể là quyển báo Nhi Đồng, một quyển truyện thiếu nhi, một cuốn sách thiếu nhi. Điều này giúp động viên các em, làm cho các em thấy rằng mọi cố gắng của mình luôn được ghi nhận và trân trọng, và cũng thông qua phần thưởng giáo viên tiếp tục khuyến khích học sinh đọc sách báo vì đọc là học suốt đời. 6. Chú trọng việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trong quá trình dạy học. Giáo viên phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá học sinh để kịp thời đưa ra biện pháp hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng học tập của các em. Trong giảng dạy, giáo viên luôn tạo không khí vui tươi, phấn khởi cho học sinh, giúp các em thấy được “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Giáo viên phải tôn trọng học sinh; trò kính thầy, thầy quý trò. 9
- Và trong kiểm tra đánh giá học sinh, giáo viên phải nghiêm túc, sáng suốt và công bằng. Giáo viên tổ chức các phong trào thi đua ngay tại lớp. Thành lập tổ, nhóm, đôi bạn cùng tiến. Từ đó, học sinh có ý thức trong học tập. Giáo viên phải đánh giá học sinh theo tiêu chí: vì sự tiến bộ của học sinh, vì sự cố gắng cả một quá trình, giúp học sinh phát huy nhiều nhất khả năng của bản thân, tuyệt đối không chê trách một cách thái quá. Đối với học sinh có khó khăn trong học tập, giáo viên cần quan tâm đặc biệt, sau đó giao các nhiệm vụ nhỏ và nhắc nhở các em tự làm theo khả năng của mình rồi dần dần tạo được động lực cho học sinh. Giáo viên nên tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá lẫn nhau trong các giờ học, trong mọi lúc, mọi nơi. Ngoài ra, giáo viên nên nêu gương những bạn học sinh học tốt trong lớp và nhờ các em giúp đỡ, hỗ trợ bạn mình trong lớp còn chậm để các em chưa nắm vững kiến thức noi theo và cùng tiến bộ. 7. Thường xuyên trao đổi với cha mẹ học sinh để trao đổi về tình hình học tập của các em. Giáo viên cần đặc biệt quan tâm tới việc phối hợp giữa nhà trường – gia đình cùng giáo dục học sinh. Giáo viên nên thông báo tình hình học tập của học sinh cho gia đình biết và từ đó có biện pháp nhờ phụ huynh quan tâm, theo sát, động viên việc học. Và phụ huynh là người sẽ sát cánh bên giáo viên, thay giáo viên hỗ trợ các em học ở nhà cũng như ở mọi lúc. Trường hợp học sinh còn mê chơi thì phụ huynh cho các em vừa học vừa chơi một cách hợp lí. Đối với học sinh chậm tiến, có khó khăn về việc kĩ năng đọc, giáo viên gặp và trao đổi với phụ huynh đưa ra kế hoạch giáo dục cụ thể giúp học sinh học tốt hơn, nâng dần chất lượng học tập của lớp.Cụ thể, phụ huynh và giáo viên cùng nhau ngồi xuống thảo luận cho ra một thời khoá biểu hợp lí cũng như các phương pháp giáo dục tốt nhất cho trẻ học ở nhà. Các 10
- biện pháp này nhằm giúp các em tự ý thức được tầm quan trọng của việc đọc, bản thân các em sẽ tự sắp xếp cho mình học ở nhà một cách hợp lí nhằm nâng cao kĩ năng đọc bài. 8. Thành lập nhóm bạn cùng nhau học tập ở lớp và ở nhà. Các em nên lập nhóm học tập như đôi bạn cùng tiến để giúp đỡ nhau trong quá trình học tập. Đặc biệt là trong các giờ tập đọc thì những em ngồi học cùng một nhóm thì tạo một nhóm học tập, cùng nhau hỗ trợ bạn mình đọc, sửa sai kịp thời cho bạn, đồng thời khích lệ tinh thần bạn nhanh nhất, hiệu quả dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Vào giờ ra chơi, nếu các em còn chỗ chưa hiểu về phần đọc hiểu mà chưa dám hỏi giáo viên thì các em chia sẻ với bạn mình và cùng nhau tìm câu trả lời. Ở nhà, các học sinh gần nhà nhau thì học nhóm cùng nhau vào những ngày cuối tuần. Trường hợp này, học sinh cùng đọc lại các bài đã học, trả lời phần câu hỏi sau đó các em sẽ đọc thêm những kiến thức trong sách tham khảo, báo Nhi đồng, báo Rùa vàng, truyện tranh Cô tiên xanh, Truyện Những tấm gương hiếu thảo, để trau dồi vốn từ, làm tư liệu cho môn tập làm văn. Ngoài ra, các em có thể cùng nhau học bằng những câu hỏi, giải ô chữ hay trò chơi mà chính các em tự đặt ra. 9. Dạy học tích hợp Ba phân môn Tập đọc – Luyện từ - câu – Tập làm văn có mối quan hệ gần gũi, mật thiết, gắn kết với nhau. Trong tiết tập đọc, nên tích hợp từ/tiếng/kĩ năng Luyện từ và câu – Tập làm văn, làm cho HS nhận thấy được vẻ đẹp của ngôn từ, của tiếng việt, bồi dưỡng năng lực văn học, suy nghĩ tư duy logic bằng hình ảnh sinh động, biết bày tỏ ý 11
- của mình tránh lối mòn ý tưởng sáo rỗng, chép văn mẫu hay tư duy lạc hậu, .. III. Kết quả đạt được Đây là đề tài có khả năng áp dụng cho học sinh lớp tôi. Hiện nay dạy học theo các PPDH tích cực, mỗi giáo viên cần nêu cao thực hiện tốt vai trò của mình, lấy các em học sinh làm trung tâm, phát huy tối đa khả năng của các em nhằm để nâng cao chất lượng học tập của các em. Bản thân tôi đã áp dụng những biện pháp trên trong các năm học: 2017 – 2018 (cuối HK2), 2019 – 2020 (HK1) và đã đạt kết quả như mong muốn. Vào đầu năm học này, học sinh của lớp tôi đọc trơn chưa tốt, nhiều em còn đánh vần, tốc độ đọc không đảm bảo, không hiểu nội dung câu hỏi và cách trả lời câu hỏi như thế nào, tiếp thu bài chậm. Điều này đã làm tôi đắn đo suy nghĩ nhiều. Tôi đã thay đổi phương pháp, hình thức dạy học nhằm giúp học sinh có tiếp thu bài tốt hơn nhưng các em không có tiến bộ, tất cả xuất phát từ ý thức tự đọc bài và tìm hiểu bài ở nhà của các em vẫn chưa có. Thấy được điều đó, tôi đã xây dựng và áp dụng những biện pháp trên trong quá trình giáo dục và dạy học của bản thân tôi. Đầu tiên, tôi dành nhiều thời gian để soạn giảng những bài tập đọc, tôi chuẩn bị phần giới thiệu bài bằng nhiều cách hấp dẫn, thú vị, hay để lôi cuốn, lôi kéo các em vào tiết học. Tôi chuẩn bị thêm đồ dùng dạy học và các trò chơi học tập nhằm tạo sự hứng thú cho các em cũng như góp phần tăng sự lôi cuốn cho tiết học. Trong khi dạy học, tôi luôn luôn động viên, khích lệ học sinh bằng những lời khen, những món quà nho nhỏ giúp các em tự tin và thúc đẩy các em cố gắng và tiến bộ hơn.Tôi tạo điều kiện để học sinh tự tìm hiểu kiến thức trong sách giáo khoa, làm các bài tập, giải quyết các tình huống, vấn đề của 12
- bài theo nhóm học tập. Tôi cho các em tư duy sáng tạo theo khả năng của mình và trao đổi, phát biểu ý kiến khi gặp điều thắc mắc. Tôi còn giao những nhiệm vụ về tự nhiên, xã hội, khoa học liên quan đến nội dung bài và yêu cầu các em tìm hiểu, khám phá, nghiên cứu hay đơn giản là tích hợp trong các giờ Tập đọc “Cùng đọc báo Nhi đồng” để tìm lời giải cho bài thi Tiếng Việt giải Lê Quý Đôn nhằm tiếp thu kiến thức dễ dàng, thoải mái mà không tạo áp lực, căng thẳng trong giờ học. Tôi thường xuyên trò chuyện với học sinh để biết và hiểu được những khó khăn trong việc học cũng như những câu hỏi mà các em chưa hiểu, chưa thông nhằm kịp thời giúp đỡ, hỗ trợ. Bên cạnh đó, tôi liên hệ với phụ huynh và trao đổi về tình hình học tập của học sinh rồi nhờ phụ huynh nhắc nhở việc học ở nhà của các em. Tôi luôn khuyên các em sắp xếp thời khóa biểu học ở nhà, viết ra giấy những kiến thức mình cần học và mục tiêu mình phải đạt được trong từng học kì. Tôi còn gợi ý các em học nhóm ở nhà để ôn tập, kiểm tra kiến thức và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.Tôi thường kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh với các tiêu chí sau: vì sự tiến bộ của học sinh, coi trọng việc động viên khuyến khích, giúp học sinh phát huy nhiều nhất khả năng của bản thân, không so sánh học sinh này với học sinh khác. Đặc biệt, tôi luôn cho các em tự đánh giá lẫn nhau và cùng nhau chia sẻ bí quyết học tốt. Nhờ kiên trì, cố gắng trong khoảng thời gian dài, kết quả đã mỉm cười với tôi. Tôi nhận thấy các em học sinh dần dần có ý thức tự học và hào hứng với giờ Tập đọc nói riêng và giờ tiếng việt nói chung. Vì thế, nay tôi chia sẻ các biện pháp của mình mong nhận được sự góp ý từ quý đồng nghiệp. Qua khoảng thời gian áp dụng, kết quả 10 tuần đầu học kì một năm học 2019 – 2020 đã cao hơn kết quả cuối năm học 13

