Báo cáo Biện pháp Giúp học sinh Lớp 7 trường THCS Thị trấn Tiên Lãng học tốt môn Toán bằng sơ đồ tư duy

docx 22 trang Chăm Nguyễn 10/07/2025 671
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Biện pháp Giúp học sinh Lớp 7 trường THCS Thị trấn Tiên Lãng học tốt môn Toán bằng sơ đồ tư duy", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_7_truong_thcs_thi_tran_t.docx

Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Giúp học sinh Lớp 7 trường THCS Thị trấn Tiên Lãng học tốt môn Toán bằng sơ đồ tư duy

  1. MỤC LỤC Phần Nội dung Trang I MỞ ĐẦU 5 - 6 1 Tính cấp thiết 5 2 Mục tiêu 5 3 Đối tượng và Phương pháp thực hiện 6 II NỘI DUNG CỦA BIỆN PHÁP 6 – 18 1 Cơ sở lý luận 6 2 Thực trạng 7 3 Các biện pháp thực hiện 7 - 8 4 Thực nghiệm sư phạm 9 - 18 III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 18 - 19 1 Ưu điểm và hạn chế của biện pháp 18 2 Phương hướng khắc phục các hạn chế 19 3 Khả năng triển khai rộng rãi biện pháp 19 Trang 3
  2. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT STT Nội dung viết tắt Kí hiệu viết tắt 1 Sơ đồ tư duy SĐTD 2 Trung học cơ sở THCS 3 Giáo viên GV 4 Học sinh HS Trang 4
  3. I. MỞ ĐẦU: 1. Tính cấp thiết: Toán học là một môn học chính trong các môn học trong nhà trường phổ thông, việc tiếp thu kiến thức Toán đối với một số học sinh không phải là chuyện đơn giản. Hơn nữa, kiến thức Toán học có tính chất kế thừa từ các năm học trước. Do đó, nếu học sinh có sự lơ là thì việc học yếu toán là không thể tránh khỏi. Để khơi dậy khả năng tự lập, chủ động, sáng tạo của học sinh, nhằm nâng cao năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, đem lại niềm say mê và hứng thú học tập cũng như rèn luyện cho học sinh một phương pháp học tập nào đó cho mình, tôi đã sử dụng phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy. Thành công của một giờ dạy bao gồm nhiều yếu tố tạo thành. Phương pháp giảng dạy là một trong những yếu tố quan trọng giúp một phần không nhỏ tạo nên thành công đó.Trong số những phương pháp dạy học đang được sử dụng thì phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy là phương pháp có nhiều ưu thế trong thực hiện các mục tiêu giáo dục mới hiện nay. 2. Mục tiêu: Để tạo cho các em có thái độ học tập tích cực, hứng thú. Khuyến khích học sinh trong lớp cùng suy nghĩ và qua đó tạo cho học sinh cơ hội thu nhận phản hồi tích cực thể hiện thành công của mình trong học tập cần một giải pháp toàn diện, có hiệu quả nhằm không chỉ trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng cho học sinh, mà còn tạo ra sức lôi cuốn, khơi gợi ở các em niềm yêu thích với môn học vì vậy tôi chọn Biện pháp giúp học sinh học tốt môn Toán 7 Trường THCS Thị trấn Tiên Lãng bằng sơ đồ tư duy để báo cáo hôm nay. Đây là biện pháp không hoàn toàn mới nhưng nó đem lại hiệu quả tích cực trong việc học tập bộ môn bởi những gam màu sặc sỡ sẽ gây chú ý cho não bộ các em, kích thích não bộ các em hoạt động một cách tích cực hơn bao giờ hết. Và sơ đồ tư duy cũng là một công cụ giúp học tập hiệu quả thông qua việc Trang 5
  4. vận dụng cả não phải và não trái giúp người học tiếp thu bài nhanh hơn, hiểu bài kĩ hơn, nhớ được nhiều chi tiết hơn. 3. Đối tượng và phương pháp thực hiện. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 7C5, 7C8 trường THCS Thị trấn Tiên Lãng. Các phương pháp thực hiện - Phương pháp điều tra, phân tích tài liệu. - Phương pháp thống kê. - Phương pháp biểu đồ. - Phương pháp tuyên truyền. - Phương pháp trực quan II. NỘI DUNG 1. Dùng SĐTD để dạy bài mới: a. Cơ sở lí luận: Trong dạy học , hình thành được ý tưởng là một vấn đề cực kì quan trong. Bởi bên cạnh việc nắm rõ các kiến thức cơ bản thì các ý tưởng sáng tạo luôn tạo nên chiều sâu và điểm độc đáo trong từng nội dung. Nếu như trong quá trình học tập trên lớp, giáo viên đưa ra một ý tưởng trung tâm hay còn gọi là từ khóa, học sinh dùng màu sắc, đường nét kết hợp với hình ảnh để phát triển thành những bản đồ tư duy khác nhau để thể hiện và đào sâu ý tưởng, tự mình chiếm lĩnh tri thức bằng hoạt động tích cực của bản thân. Các em sẽ không ngừng tư duy, không ngừng hoạt động để biến những yếu tố vô hình trong bài thành những hình ảnh sinh động để có thể tri giác được. Bởi vậy sử dụng sơ đồ tư duy trong quá tình dạy học bài mới sẽ giúp các em có thể mở rộng ý tưởng, đào sâu, nhớ lâu kiến thức. b. Thực trạng : Hơn nữa việc sử dụng Sơ đồ tư duy cho dạy bài mới ít được giáo viên áp dụng. Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy, sơ đồ tư duy chính là một phương tiện, một công cụ hỗ trợ rất đắc lực trong quá trình dạy- học. Việc kết hợp Sơ đồ tư duy Trang 6
  5. trong quá trình ghi bảng, dạy học là vô cùng thuận lợi. Việc sử dụng Sơ đồ tư duy cho cả bài dạy, hoặc cho một phần (một nội dung) nào đó sẽ tạo nên một “gia vị” mới, tăng sức hấp dẫn của bài học, tạo hứng thú, khơi gợi trí tưởng tượng, sáng tạo của học sinh. Và cũng vì vậy mà các em sẽ có cách ghi bài khác lại, ghi bài bằng Sơ đồ tư duy. c. Các biện pháp thực hiện: Giáo viên có thể sử dụng bản đồ tư duy cho cả tiết học (nếu thấy cần thiết) hoặc có thể sử dụng cho phần (nội dung) trọng tâm của bài. Giáo viên thay vì gạch đầu dòng các ý cần trình bày lên bảng thì sử dụng SĐTD để thể hiện được 1 phần hoặc toàn bộ nội dung bài học một cách rất trực quan. Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến thức của bài mới rồi yêu cầu học sinh vẽ SĐTD bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các em để các em tìm ra các tự liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiện SĐTD. Toàn bộ nội dung cần truyền đạt đến học sinh được thâu tóm trên bản đồ mà không bị sót ý. HS thay vì cắm cúi ghi chép thì chọn lọc các thông tin quan trọng, sơ đồ hoá chúng bằng các mối quan hệ và thể hiện lại theo cách hiểu của mình. Giáo viên linh hoạt trong việc áp dụng SĐTD trong giảng dạy kiến thức mới: Có thể giới thiệu SĐTD ở đầu bài giảng; đưa ra chủ đề chung và gợi ý các câu hỏi lôgíc, yêu cầu học sinh đóng góp các ý, các nhánh để vẽ SĐTD tìm ra nội dung chính bài giảng trong buổi hôm đó. Nếu GV giới thiệu bài giảng bằng quá trình lập SĐTD và sau đó kết thúc bài học bằng chính SĐTD đó sẽ giúp học sinh nhanh chóng nắm ngay được ý chính của bài học, nhớ nhanh hơn và lâu hơn. * Cụ thể các bước thực hiện: Bước 1: GV đưa ra từ khóa hoặc 1 hình ảnh, hình vẽ của chủ đề chính vào vị trí trung tâm của SĐTD. Bước 2: Trong quá trình triển khai bài, hệ thống SĐTD dần hoàn thiện. Bước 3. Kết thúc bài học, GV sử dụng chính SĐTD đã được thiết lập trong quá trình lên lớp để củng cố bài học. Trang 7
  6. Với cách học này cả giáo viên và học sinh đều phải tham gia vào quá trình dạy học tích cực hơn. Giáo viên vừa giảng bài vừa thể hiện trên SĐTD hoặc vừa tổ chức cho học sinh khai thác kiến thức vừa hoàn thành SĐTD. Học sinh được nghe giảng, nhìn sơ đồ, trả lời câu hỏi, đọc sách giáo khoa, ghi chép sự tập trung chú ý, tích cực được phát huy, cường độ học tập theo đó cũng được đẩy nhanh hơn. Ví dụ: Khi dạy bài : “Biểu thức đại số” tôi ghi bảng bằng sơ đồ tư duy khái quát chủ đề cho các em. Bắt đầu từ khóa “Biểu thức đại số” (hình ảnh ở trung tâm), HS phát hiện thêm các nhánh phụ: đó là các đơn vị kiến thức làm nổi bật từ khóa đã nêu ở nhánh chính và sau đó cho các em thực hành bằng bài tập có sẵng trong SGK. Như vậy kết thúc bài học, tôi đã có sơ đồ tư duy trên bảng một cách khoa học, ngắn gọn rõ ràng và rất “bắt mắt” bởi màu sắc và các đường cong. HS có thể tự hình thành vào vở của mình theo cách riêng hoặc ghi theo ý hiểu của các em. Trong đó nếu có nhánh nào khó nhớ tôi gợi ý cho các em hãy thêm vào đó những hình ảnh em thích nhất hoặc ghét nhất, bởi những hình ảnh bình thường các em có thể quên nhưng những thứ các em yêu thích nhất hoặc ghét nhất thì khó lòng quên được Trang 8
  7. d. Thực nghiệm sư phạm: - Sử dụng SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực hơn, một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậy việc sử dụng SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não. - Việc học sinh tự vẽ SĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của HS, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của HS, các em tự do chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím, ), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong ), các em tự “sáng tác” nên trên mỗi SĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng HS và SĐTD do các em tự thiết kế nên các em sẽ yêu quí, trân trọng “tác phẩm” của mình. Sau khi kết thúc tiết học các em, bằng lối tư duy, óc thẫm mỹ của mình, mỗi em đã có sơ đồ tư duy cho riêng mình và đây là sản phẩm do các em tạo ra. Dù chưa được hoàn hảo nhưng bước đầu cho thấy các em đã biết chắc lọc, ghi nhớ kiến thức bằng sơ đồ tư duy theo cách của riêng mình. 2. Dùng SĐTD khái quát kiến thức sau khi học xong một đơn vị kiến thức cụ thể. a. Lí do: Trong phương pháp dạy học tích cực, hoạt động ứng dụng- bổ sung là thao tác cuối cùng sau khi tìm hiểu xong toàn bộ nội dung của kiến thức. Tuy là phần việc Trang 9
  8. cuối cùng chiếm khối lượng thời gian ít ỏi nhưng có vai trò quan trọng, cũng là một phần tạo nên sự hoàn thiện của một giờ lên lớp. Đặc biệt là trong chương trình sách giáo khoa mới hiện nay các bài học chia theo chủ đề, việc khái quát lại nội dung của mỗi chủ đề ở tiết học cuối là việc làm hết sức cần thiết. Trong hoạt động này, giáo viên thường yêu cầu học sinh “củng cố hệ thống” lại nội dung bài học nhằm khắc sâu kiến thức, để từ đó giáo viên chủ động cung cấp thêm thông tin, tư liệu để mở rộng kiến thức, hướng dẫn học sinh liên hệ, so sánh... giúp học sinh hiểu được bản chất, sâu sắc cuả mỗi kiến thức đã học. Có nhiều cách khác nhau để tổ chức hoạt động này cho phù hợp với đặc trưng nhóm bài, song củng cố, khắc sâu kiến thức một cách hệ thống nhất cho học sinh, tôi thường sử dụng Sơ đồ tư duy. Sử dụng SĐTD sau mỗi bài, sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của mỗi kiến thức đã học bằng cách vẽ SĐTD. Nội dung chủ đề được vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập. Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng. b. Cách thức thực hiện: Tôi yêu cầu học sinh hình dung lại, nhớ lại tiến trình bài dạy, kiến thức các em vừa được tiếp nhận. Từ đó, các em sẽ tự tạo lập một Sơ đồ tư duy cho mình hoặc cùng với nhóm mình tạo lập một Sơ đồ tư duy khái quát bài học (trên giấy trắng khổ to hoặc trực tiếp trên bảng). * Cụ thể các bước thực hiện: Bước 1: GV đưa ra chủ đề chính với vai trò là từ khóa trung tâm của SĐTD Bước 2. Bằng hệ thống câu hỏi gợi mở, giáo viên hướng dẫn, dẫn dắt HS hoàn thành SĐTD. Bước 3. Học sinh trình bày SĐTD mà các em vừa lập (Tùy từng đơn vị bài học, giáo viên có thể chia HS làm việc theo từng nhánh của sơ đồ tư duy nhằm củng cố lại kiến thức cần nắm). Trang 10
  9. Bước 4. Giáo viên gọi HS nhận xét, bổ sung kiến thức hoàn chỉnh SĐTD. c. Kết quả: Ví dụ: Sau khi tôi dạy xong bài về các bộ phận của cơ thể, tôi chia lớp thành 3 nhóm, yêu cầu học sinh hệ thống khái quát lại nội dung trọng tâm bài học bằng sơ đồ tư duy trong thời gian 5 phút với từ khóa trung tâm là “Tỉ lệ thức” Sử dụng Sơ đồ tư duy trong thời gian này sẽ phát huy được ở học sinh: khả năng ghi nhớ, khả năng tổng hợp, khả năng hệ thống hóa kiến thức, khả năng sáng tạo của học sinh. Kết thúc bài giảng, thay vì phải ghi chép theo cách truyền thống, học sinh có thể tự “vẽ” bài học theo cách hiểu của mình với nhiều màu sắc và hình ảnh khác nhau. Đến tiết học sau, chỉ cần nhìn vào sơ đồ, các em có thể nhớ được những phần trọng tâm của bài học. - Có thể nói: Sử dụng SĐTD giúp học sinh ghi ít, nhớ nhiều Trang 11
  10. Như vậy: Mỗi học sinh có cách lập và trình bày “sơ đồ tư duy” khác nhau theo trí tưởng tượng và sáng tạo của mình, biến bài học thành một bức tranh sinh động bằng các hình thức như vẽ, sử dụng màu sắc, kết cấu nhánh hợp lý, Và thay vì sử dụng trang giấy với nội dung đọc – chép giống nhau, mỗi sơ đồ tư duy đều mang dấu ấn cá nhân của từng học sinh, thể hiện rất rõ tư duy độc lập của từng em cũng hiệu quả tiếp thu bài học của từng học sinh. - Sử dụng SĐTD giúp học sinh không chỉ ghi ít, nhớ nhiều mà còn giúp học sinh cân bằng cảm xúc – trí tuệ: Kiểu ghi chép sử dụng kí hiệu, từ khóa, nhánh, màu sắc, hình ảnh để giúp việc lưu trữ thông tin được khoa học và ghi nhớ thông tin hiệu quả là bản chất của sơ đồ tư duy. Vì vậy mà sơ đồ tư duy thường được sử dụng với các em trong môn học sẽ phát huy kết quả rất tốt, giờ học trên lớp với các em sẽ chẳng có gì thay đổi, chỉ là thay đổi cách ghi chép. Sơ đồ tư duy là giúp các em cách cân bằng cảm xúc – trí tuệ tốt hơn. Trang 12
  11. Để làm được điều đó yêu cầu học sinh phải tập trung để nắm bắt được thông tin, sàng lọc những gì là cốt yếu, tìm được từ khóa và hình ảnh để thể hiện cho phù hợp 3. Ứng dụng SĐTD trong dạy tiết ôn tập, luyện tập củng cố kiến thức a. Lí do: Sử dụng SĐTD để củng cố kiến thức bài học là việc làm rất có hiệu quả. Giáo viên sử dụng SĐTD để thể hiện lại những nội dung cơ bản của bài học, tránh bị bỏ sót ý, khắc sâu những kiến thức trọng tâm. Học sinh sử dụng SĐTD để thể hiện lại sự hiểu biết của mình qua việc tiếp thu nội dung bài học, đồng thời là một kênh thông tin phản hồi mà qua đó giáo viên có thể đánh giá nhận thức của học sinh, định hướng cho từng học sinh và điều chỉnh cách dạy, cách truyền đạt của mình cho phù hợp. Phù hợp với mục đích củng cố kiến thức cho học sinh sau bài học thì dạng bài tập thích hợp là điền thông tin còn thiếu vào SĐTD. Các thông tin còn thiếu này sẽ bao trùm nội dung toàn bài để một lần nữa nhằm khắc sâu kiến thức và lưu ý đến trọng tâm của bài học b. Cách thực hiện: Thông thường cuối mỗi bài thì sẽ có nhiều đơn vị kiến thức liên quan với nhau qua một chủ đề chính. Ở giải pháp này giáo viên có thể tiến hành ngay trong tiếp ôn tập trực tiếp trên lớp hoặc để rút ngắn thời gian giáo viên hướng dẫn các em thực hiện ở nhà ở cuối tiết học trước, yêu cầu các em thực hiện trên giấy A4 để tiết ôn tập giáo viên cho các em trình bày nhanh trước lớp. * Cụ thể các bước thực hiện: Bước 1: GV đưa ra chủ đề chính với vai trò là trung tâm của SĐTD Bước 2: Bằng hệ thống câu hỏi, giáo viên hướng dẫn HS hoàn thành SĐTD ở nhà hoặc taị lớp. Trang 13