Báo cáo Biện pháp Giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho học sinh thông qua dạy học môn Đạo Đức

docx 37 trang Chăm Nguyễn 01/07/2025 420
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Biện pháp Giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho học sinh thông qua dạy học môn Đạo Đức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_bien_phap_giao_duc_ki_nang_tu_bao_ve_cho_hoc_sinh_th.docx

Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho học sinh thông qua dạy học môn Đạo Đức

  1. 3 3.3. Nhiệm vụ Tìm hiểu tổng quan về hướng nghiên cứu của đề tài. Tìm hiểu hệ thống các kiến thức về cơ sở lý luận của đề tài: cơ sở lý thuyết về giáo dục kĩ năng tự bảo vệ của HSTH . Điều tra thực trạng về việc giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho học sinh trong dạy học môn Đạo đức lớp ở trường tiểu học. Đề xuất các biện pháp để giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho HSTH. Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất. NỘI DUNG I. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh đầu bậc tiểu học Học sinh ở lứa tuổi này luôn tò mò, thích khám phá về những điều xung quanh và biết được việc gì nên và không nên để từ đó HS dần hình thành những hiểu biết ban đầu về kĩ năng tự bảo vệ. Vào tiểu học, là học sinh phải thực hiện một “bước ngoặc” rất lớn trong cuộc đời là chuyển cuộc sống từ nhà trường mẫu giáo lên cuộc sống của nhà trường phổ thông. Vì vậy, ở học sinh đầu bậc vẫn tồn tại những nhu cầu từng là đặc trưng của tuổi mẫu giáo như nhu cầu vui chơi, vận động, nhu cầu tìm hiểu thế giới bên ngoài. Học sinh đầu bậc rất cả tin: các em tin vào sách vở, vào người lớn, vào bản thân mình. Niềm tin còn cảm tính, chưa có lý trí soi sáng. Các em hồn nhiên trong quan hệ bạn bè, thầy cô, người lớn. Các em nghĩ rằng mọi cái đều dễ dàng, đơn giản, nhìn cuộc sống với thái độ lạc quan. Một đặc điểm cần lưu ý ở học sinh là tính bắt chước. Các em dễ dàng bắt chước người lớn, thầy cô, bạn bè,...Các em có thể bắt chước tính tốt nhưng cũng có thể bắt chước tính xấu. Khả năng kiềm chế tình cảm của học sinh còn kém, các phẩm chất của ý chí còn chưa có khả năng điều khiển và điều chỉnh những cảm xúc của các em. Tính độc lập, tự chủ, kiềm chế của học sinh đầu bậc còn kém nên các em ít tự mình giải quyết được sự
  2. 4 việc mà thường là chờ đợi sự giúp đỡ của người khác. Tính bộc phá và ngẫu nhiên vẫn còn trong hành động của học sinh. Đây là một trong những nguyên nhân làm học sinh rời bỏ mục đích chính của mình. II. Vị trí, nhiệm vụ môn Đạo đức 1. Vị trí Giáo dục đạo đức là một bộ phận rất quan trong của quá trình sư phạm, đặc biệt là ở tiểu học. Nó nhằm hình thành những cơ sở ban đầu về mặt đạo đức cho HSTH , giúp các em ứng xử đúng đắn qua các mối quan hệ đạo đức hàng ngày. Có thể nói, nhân cách của HSTH thể hiện trước hết qua bộ mặt đạo đức. Điều này thể hiện qua thái độ cư xử đối với ông bà, cha mẹ, anh chị em ruột trong gia đình, với thầy cô giáo, bạn bè qua thái độ với học tập, rèn luyện hàng ngày. Trong nhà trường hiện nay, việc giáo dục đạo đức cho học sinh nhằm giúp các em có những hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật phù hợp với lứa tuổi trong các mối quan hệ của các em với bản thân, gia đình và cộng đồng, môi trường tự nhiên và ý nghĩa của việc thực hiện các chuẩn mực đó nhằm phát triển nhân cách của các em một cách trọn vẹn, là nền tảng cơ bản để hình thành cho các em ý thức đạo đức, tình cảm đạo đức và thói quen đạo đức, nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa. Đối với nước ta hiện nay, trong điều kiện nền kinh tế thị trường và cạnh tranh, xã hội xuất hiện một bộ phận dân cư sống vì lợi nhuận cá nhân chạy theo đồng tiền một cách vô điều kiện. Song song, đó là tình trạng xói mòn về đạo đức, sự gia tăng các tệ nạn xã hội như: buôn lậu, ma tuý, phim ảnh đồi truỵ, hệ thống thông tin hiện đại như: internet và điều đáng lo ngại là không ít học sinh chưa có chuẩn mực hành vi đúng đắn, có những biểu hiện lệch lạc: nói tục, chửi thề, gây gổ, đánh nhau, thích chơi bời lêu lổng, thiếu lễ độ với người lớn (kể cả ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo). Thực trạng đạo đức trong lứa tuổi thanh thiếu niên hiện nay rất đáng lo ngại. Chất lượng giáo dục đạo đức nói chung và mối lo ngại của xã hội đối với tình hình tư tưởng đạo đức của một bộ phận thế hệ trẻ hiện nay là điều khiến cho chúng ta phải suy nghĩ.
  3. 5 2. Nhiệm vụ Bước đầu hình thành, phát triển ở học sinh những hiểu biết ban đầu về chuẩn mực hành vi đạo đức, pháp luật và sự cần thiết thực hiện theo các chuẩn mực đó trong quan hệ với bản thân và người khác, với công việc, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên; thái độ tự trọng, tự tin; những tình cảm và hành vi tích cực: yêu gia đình, quê hương, đất nước; yêu thương, tôn trọng con người; đồng tình với cái thiện, cái đúng, cái tốt, không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu; chăm học, chăm làm; trung thực; có trách nhiệm với thái độ, hành vi của bản thân. Giúp học sinh bước đầu nhận biết và điều chỉnh được cảm xúc, thái độ, hành vi của bản thân; biết quan sát, tìm hiểu về gia đình, quê hương, đất nước và về các hành vi ứng xử; biết lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch cá nhân,hình thành thói quen, nền nếp cơ bản, cần thiết trong học tập, sinh hoạt. Chương trình môn Đạo đức ở tiểu học gồm một hệ thống chuẩn mực hành vi đạo đức lựa chọn từ các chuẩn mực ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội. III. Nội dung biện pháp Các kĩ năng của học sinh tiểu học được giáo dục trong môn Đạo đức 1.1. Kĩ năng tự bảo vệ của học sinh tiểu học 1.1.1. Phòng tránh tai nạn thương tích Sau khi học bài học, học sinh nhận biết được những vật dễ gây tai nạn thương tích, những hành động gây ra thương tích và đưa ra lời khuyên trong các tình huống nguy hiểm. Nhận biết hành động dễ gây thương tích. Trình bày được lợi ích của phòng, tránh tai nạn, thương tích và dự đoán được hậu quả của những tình huống nguy hiểm. Đưa ra lời khuyên trong các tình huống ứng xử Giải quyết các tình huống có vấn đề.
  4. 6 Vận dụng sáng tạo: Hướng dẫn bạn thực hành đảm bảo an toàn trong lớp học. Tham gia thảo luận về tai nạn thường gặp ở các khu vực địa phương. Thông qua các hoạt động học HS sẽ thực hiện trong các hoạt động học, những biểu hiện cụ thể của những biểu hiện cụ thể của những phẩm chất, năng lực có thể được hình thành và phát triển cho học sinh là: + Phẩm chất: Chăm chỉ: Vận dụng các kiến thức, kĩ năng học được ở nhà trường vào đời sống hằng ngày. Trách nhiệm: Không gây mất trật tự, cãi nhau, đánh nhau tại trường học, nơi ở và nơi công cộng. + Năng lực: Năng lực chung: Tự chủ và tự học: Học sinh tự giác thực hiện các yêu cầu giáo viên đề ra Giao tiếp và hợp tác: Học sinh tham gia thảo luận nhóm cùng nhau đóng góp ý kiến xây dựng bài học. Giải quyết vấn đề và sáng tạo: Học sinh trình bày ý kiến giải quyết vấn đề một cách sáng tạo. Năng lực đặc thù: Năng lực điều chỉnh hành vi: Nhận biết được một số chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật thường gặp phù hợp với lứa tuổi và sự cần thiết của việc thực hiện các chuẩn mực đó; Có kiến thức cần thiết, phù hợp để nhận thức, quản lý, tự bảo vệ bản thân và duy trì mối quan hệ với bạn bè. Sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành sau bài học là: Câu trả lời, ứng xử được các tình huống.
  5. 7 1.1.2. Tìm kiếm sự hỗ trợ 2.3.2.1. Yêu cầu cần đạt Nêu được một số tình huống cần tìm kiếm sự hỗ trợ Biết vì sao phải tìm kiếm sự hỗ trợ Biết tìm kiếm sự hỗ trợ khi cần thiết 2.3.2.2. Ví dụ TÌM KIẾM SỰ HỖ TRỢ 1. Hồi tưởng a) Hãy hồi tưởng lại xem trong quá khứ Em đã có khi nào gặp khó khăn và phải nhờ đến sự hỗ trợ, giúp đỡ của ai chưa? Đó là tình huống như thế nào? Em đã nhờ ai giúp đỡ? Họ có giúp em không? Giúp em như thế nào? Kể lại trước lớp. 2. Em vẽ “Bàn tay tin cậy” của mình bằng cách: + Xòe bàn tay đặt úp lên giấy A4 rồi dùng bút chì vẽ theo bàn tay đó. + Viết về một khó khăn mà em đã trải qua trong quá khứ vào giữa hình bàn tay. Ví dụ: Em bị ốm, phải nghỉ học; Em bị bạn bắt nạt; + Trên mỗi hình ngón tay, hãy ghi tên một người thân đã giúp em giải quyết khó khăn đó. Ví dụ: bố, mẹ, cô giáo, bạn Hưng, bác Lan hàng xóm, + Chia sẻ hình “Bàn tay tin cậy” của mình với bạn ngồi bên cạnh. 3. Thảo luận lớp theo các câu hỏi sau:
  6. 8 + Khi gặp khó khăn trong cuộc sống, em thường muốn tìm ai để chia sẻ và nhờ hỗ trợ? + Vì sao em lại muốn tìm đến những người này mà không phải là những người khác? + Theo em, thế nào là những người/địa chỉ hỗ trợ đáng tin cậy? + Tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn có lợi gì? 4. Các nhóm thảo luận tìm các địa chỉ hỗ trợ và câu cần nói trong mỗi tình huống và điền vào bảng theo mẫu dưới đây: Tình huống cần hỗ trợ Địa chỉ/người hỗ trợ phù hợp Câu đề nghị giúp đỡ nên sử dụng 1.Em gặp khó khăn về Tiếng Việt 2. Em bị bắt nạt 3. Em bị ốm khi ở trường 4. Em bị lạc ở bến ô tô 5. Em nhìn thấy nhà hàng xóm bị cháy trong khi cả nhà đi vắng 6. Em nhìn thấy có kẻ trộm cậy khóa cửa nhà hàng xóm 7. Bà của em bị ngất trong khi chỉ có hai bà cháu ở nhà. Các nhóm ghi kết quả thảo luận ra bảng nhóm và trưng bày xung quanh lớp học. Cả lớp xem triển lãm và ghi ý kiến bình luận, bổ sung. Kết luận: Trong mỗi tình huống, hoàn cảnh, em nên tìm đúng địa chỉ và có cách trình bày, đề nghị giúp đỡ phù hợp
  7. 9 1. Đóng vai ứng xử khi tìm kiếm sự hỗ trợ Mỗi nhóm nghiên cứu một tình huống ở phần Phụ lục và đóng vai tìm kiếm sự hỗ trợ khi ở trong tình huống đó. Các nhóm thảo luận và chuẩn bị đóng vai. Đóng vai. Thảo luận lớp sau mỗi tình huống đóng vai: + Cách ứng xử của nhân vật khi đến nhờ sự hỗ trợ đã phù hợp chưa? Đã phù hợp/chưa phù hợp ở điểm nào? Vì sao? + Trong tình huống này, nhân vật nên ứng xử như thế nào cho phù hợp? Thảo luận lớp sau khi cả các nhóm đã hoàn thành phần đóng vai: Bạn cảm thấy như thế nào khi có người quan tâm đến khó khăn của mình và hỗ trợ, giúp đỡ mình? Bạn cảm thấy thế nào nếu có người từ chối giúp đỡ và có thái độ thiếu thiện chí với mình? Trong trường hợp gặp thái độ thiếu thiện chí, bạn nên làm gì? Kết luận: Tình huống 1: Nam nên xin phép cô giáo xuống phòng y tế của trường nhờ khám bệnh. Tình huống 2: Thông nên tìm sự hỗ trợ của cơ quan công an và gia đình. Tình huống 3: Lan nên gọi cấp cứu 115 và gọi điện báo cho bố mẹ đến bệnh viện. Khi tìm đến các địa chỉ hỗ trợ, chúng ta cần: Cư xử đúng mực và tự tin. Trình bày nhu cầu cần giúp đỡ một cách đầy đủ, rõ ràng, ngắn gọn.
  8. 10 Giữ bình tĩnh và kiên nhẫn khi gặp sự đối xử thiếu thiện chí. Nếu bị cự tuyệt, đừng nản chí, hãy kiên trì tìm sự hỗ trợ từ các địa chỉ khác. 2. Các số điện thoại khẩn cấp Ghi các trường hợp khẩn cấp cần gọi các số điện thoại sau: 113: Số điện thoại gọi ........................................ 114: Số điện thoại gọi ........................................ 115: Số điện thoại gọi ........................................ 3. Liên hệ thực tế Hãy kể về một trường hợp em đã thành công (hoặc thất bại) trong việc tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn. Vì sao em thành công/thất bại? Nếu bây giờ gặp tình huống tương tự, em sẽ ứng xử như thế nào? 1.1.3. Xử lí bất hòa với bạn bè Nêu được một số biểu hiện bất hòa với bạn bè. Nhận biết được một số lợi ích của việc xử lí bất hòa với bạn bè. Thực hiện một số cách đơn giản, phù hợp để xử lí bất hòa với bạn bè. Sẵn sàng giúp bạn bè xử lí bất hòa với nhau. 1.2. Vai trò của giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho học sinh tiểu học Nhiều nghiên cứu đã cho phép đi đến kết luận là trong các yếu tố quyết định sự thành công của con người, kĩ năng tự bảo vệ đóng góp đến khoảng 45%. Theo UNESCO ba thành tố hợp thành năng lực của con người là: kiến thức, kĩ năng và thái độ. Hai yếu tố thuộc về kĩ năng sống, có vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách, bản lĩnh, tính chuyên nghiệp Thành công chỉ thực sự đến với những người biết thích nghi để làm chủ hoàn cảnh và có khả năng chinh phục hoàn cảnh. Vì vậy, kĩ năng tự bảo vệ sẽ là hành trang không thể thiếu. Kĩ năng tự bảo vệ tốt sẽ thúc đẩy thay đổi cách nhìn nhận bản thân và thế giới, tạo dựng niềm tin, lòng tự trọng, thái độ tích cực và động lực
  9. 11 cho bản thân, tự mình quyết định số phận của mình. Kĩ năng tự bảo vệ giúp giải phóng và vận dụng năng lực tiềm tàng trong mỗi con người để hoàn thiện bản thân, tránh suy nghĩ theo lối mòn và hành động theo thói quen. Quá trình hội nhập với thế giới đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ngoài kiến thức chuyên môn, yêu cầu về các kĩ năng sống ngày càng trở nên quan trọng. Thiếu kĩ năng tự bảo vệ con người dễ hành động tiêu cực, nông nổi. Giáo dục cần trang bị cho người học những kĩ năng thiết yếu như ý thức về bản thân, làm chủ bản thân, đồng cảm, tôn trọng người khác, biết cách hợp tác và giải quyết hợp lý các mâu thuẫn, xung đột. Nghiên cứu gần đây về sự phát triển của não trẻ cho thấy rằng khả năng giao tiếp với mọi người, khả năng biết tự kiểm soát, thể hiện các cảm giác của mình, biết cách ứng xử phù hợp với các yêu cầu, biết giải quyết các vấn đề cơ bản một cách tự lập có những ảnh hưởng rất quan trọng đối với kết quả học tập của trẻ tại trường. Giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho học sinh có thể quan niệm là việc tổ chức các hoạt động giáo dục đa dạng, phong phú nhằm kích thích học sinh tham gia một cách tích cực chủ động vào các quá trình hoạt động, qua đó hình thành hoặc thay đổi hành vi của học sinh theo hướng tích cực nhằm góp phần phát triển nhân cách toàn diện; giúp học sinh có lối sống an toàn, khỏe mạnh và tích cực chủ động trong cuộc sống hằng ngày. Giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho học sinh là giáo dục cho các em có cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng hoặc thay đổi ở các em các hành vi theo hướng tích cực phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học trên cơ sở giúp học sinh có tri thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp. 1.3. Một số phương pháp dạy học có khả năng giáo dục kĩ năng tự bảo vệ 1.3.1. Phương pháp rèn luyện Rèn luyện là phương pháp tổ chức cho HS thực hiện những hành vi, công việc trong cuộc sống hằng ngày theo bài học đạo đức. Việc rèn luyện có tác dụng to lớn trong việc hình thành ở học sinh hành vi, thói quen đạo đức như là mục tiêu chủ yếu của quá trình dạy học môn Đạo đức. Trong đời sống con người, thói quen tồn tại như một nếp sống bền vững, cho nên nó đóng vai trò quan trọng trong việc biến tri thức thành hành động thực tiễn. Đối với HSTH, thói quen tốt
  10. 12 lại càng có ý nghĩa quan trọng vì hành vi của HSTH chưa có tính bền vững cao. Việc rèn luyện những thói quen tích cực cho các em ngay từ nhỏ sẽ là cơ sở thuận lợi để hình thành những nét tính cách tốt phù hợp với đạo đức xã hội. Trong thực tiễn dạy học môn Đạo đức, các công việc rèn luyện có thể được tổ chức cho học sinh vào thời gian trong giờ lên lớp ( thường là cuối tiết 1, trong quá trình thực hành ở tiết 2) nhưng chủ yếu vào thời gian vào giờ lên lớp. Các bước tiến hành + Bước chuẩn bị Xác định nội dung rèn luyện: căn cứ vào tính chất bài đạo đức, mục tiêu của bài, khả năng của học sinh, điều kiện thực tế xung quanh Để xác định những hành vi, công việc mà các em thực hiện cho phù hợp. + Bước giao nhiệm vụ Bước này thường được thực hiện ở phần hướng dẫn thực hành bài học ( cuối tiết 1 hay cuối tiết 2- nếu công việc được tiến hành vào thời gian ngoài giờ lên lớp). Khi đó, giáo viên giúp học sinh nắm vững: Nội dung công việc cần thực hiện và những kết quả cần đạt Cách tiến hành, thực hiện công việc, cách gi phiếu rèn luyện Thời gian Địa điểm Dự kiến cách đánh giá ( HS nộp phiếu rèn luyện hay báo cáo trước lớp) Sau đó, giáo viên phát phiếu rèn luyện cho các em và hướng dẫn học sinh ghi lại quá trình thực hiện công việc vào phiếu rèn luyện ( và phiếu báo cáo, nếu cần) + Bước học sinh thực hiện nhiệm vụ Học sinh thực hiện những hành vi, công việc được giao chủ yếu vào thời gian ngoài giờ học- ở gia đình, nhà trường, xã hội ( tùy hành vi, công việc cụ thể). Các em ghi lại
  11. 13 những công việc mình làm vào phiếu rèn luyện, hoàn thành báo cáo ( nếu cần) để nộp lại hay báo cáo trước lớp. Những yêu cầu sư phạm + Nội dung rèn luyện phải phù hợp với bài đạo đức, với đặc điểm tâm sinh lí và khả năng của các em, với điều kiện thực tế cuộc sống xung quanh của địa phương. + Công việc điều tra phải mang tính khả thi và tính giáo dục cao. + Cần tổ chức rèn luyện cho HS một cách thường xuyên, hệ thống. Có như vậy thì mới hình thành được ở học sinh kĩ năng tham gia, tổ chức hoạt động thực tiễn, thói quen, tình cảm đạo đức bền vững. + Cần có những phương tiện cần thiết cho hoạt động của HS, trong đó, phiếu rèn luyện đóng vai trò quan trọng. + Cần đề cao vai trò chủ thể tích cực, nâng cao ý thức tự giác tự quản của HS trong quá trình tự rèn luyện của mình. + Cần kiểm tra việc rèn luyện của HS, trong đó, có sự phối hợp với gia đình, các tổ chức xã hội, ban tự quản của HSTH. Việc đánh giá, khách quan, kịp thời, công bằng, bằng những cách như tổ chức cho các em bao cáo kết quả rèn luyện trước lớp, ghi nhận xét vào phiếu rèn luyện... + Tránh những hiện tượng như: ngại khó, thiếu tin tưởng vào khả năng của học sinh 1.3.2. Phương pháp tập luyện theo mẫu hành vi Tập luyện theo mẫu hành vi là phương pháp tổ chức cho học sinh các thao tác của mẫu hành vi. Việc hướng dẫn cho HSTH thực hiện các thao tác hành vi đơn giản ( ví dụ, hành vi chào hỏi, hành vi trao hay nhận gì đó từ người lớn..), đặc biệt ở lớp 1 là rất cần thiết. Đó là vì , nhiều khi trong cuộc sống, các em mắc những sai sót trong hành vi của mình chỉ vì không được chỉ bảo đến nơi, đến chốn về các thao tác cụ thể của hành vi đạo đức.