Báo cáo Biện pháp Dạy kỹ năng phòng tránh xâm hại thân thể cho trẻ lớp Mẫu giáo 5-6 tuổi ở Trường Mầm non
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Biện pháp Dạy kỹ năng phòng tránh xâm hại thân thể cho trẻ lớp Mẫu giáo 5-6 tuổi ở Trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_bien_phap_day_ky_nang_phong_tranh_xam_hai_than_the_c.docx
Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Dạy kỹ năng phòng tránh xâm hại thân thể cho trẻ lớp Mẫu giáo 5-6 tuổi ở Trường Mầm non
- Trường lớp được xây dựng khang trang, diện tích sân chơi ở ngoài trời rộng rãi, thoáng mát, sạch sẽ. Được trang bị các đồ dùng, đồ chơi học tập tương đối đầy đủ, có các thiết bị hiện đại: Tivi, mạng internet...từ đó bản thân tôi cũng như trẻ được tiếp xúc với những nội dung mang tính giáo dục trẻ như: kĩ năng bảo vệ bản thân khi giao tiếp với họ hàng, người lạ...Trẻ ngoan và tích cực tham gia các hoạt động. Được sự quan tâm hỗ trợ nhiệt tình của các bậc phụ huynh trong việc phối hợp thực hiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ. Đặc biệt những năm qua, trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ không có trường hợp trẻ của trường MN Phố Cò bị xâm hại thân thể. - Về trẻ: Trẻ cùng độ tuổi, đa số trẻ tích cực tham gia các hoạt động cùng cô và bạn khi ở lớp. Trẻ hòa đồng, đoàn kết cùng các bạn, biết tên, phân biệt giới tính của các bạn trong lớp, biết thể hiện những hành động phù hợp với giới tính. - Về phụ huynh Đa số phụ huynh nhiệt tình ủng hộ các hoạt động của cô và trẻ tại lớp, trường, thường xuyên ủng hộ những nguyên vật liệu phục vụ chủ đề mới. 3.1.2.Về hạn chế, khó khăn - Về giáo viên: Còn e ngại, ngại ngùng khi nhắc đến vùng riêng tư của trẻ vì cho rằng đó là việc tế nhị, khó nói. - Về trẻ: Trẻ bị ảnh hưởng bởi cuộc sống phát triển hiện đại như: Internet, tivi, các trò chơi điện tử Trẻ tiếp thu kiến thức chưa đồng đều. - Về phụ huynh
- Nhiều cha mẹ học sinh còn chủ quan cũng như chưa thực sự quan tâm đến việc giáo dục rèn kỹ năng phòng tránh bị xâm hại cho trẻ. Phụ huynh còn chưa giành nhiều thời gian trò chuyện, chơi cùng trẻ. Với những khó khăn, hạn chế nêu trên, sau thời gian nhận lớp tôi đã tiến hành khảo sát đánh giá kỹ năng của trẻ lớp Mẫu giáo 5-6 tuổi A1 trong việc phòng chống bị xâm lại với các nội dung và kết quả như sau: Bảng khảo sát kĩ năng phòng tránh xâm hại thân thể trẻ của lớp mẫu giáo 5-6 tuổi A1 Trường Mầm non (tháng 9/2022) Trẻ đạt Trẻ chưa đạt Nội dung khảo sát Tổng số trẻ Số lượn Tỷ lệ Số lượn Tỷ lệ g % g % 1. Trẻ biết các bộ phận trên cơ thể, 21 đặc biệt là vùng riêng tư. 2. Trẻ biết về danh giới cá nhân. 21 3. Trẻ thường kể về các hoạt động 21 hàng ngày của trẻ. 4. Trẻ có kĩ năng xử lí khi gặp phải 21 các tình huống nguy hiểm. 5. Trẻ có đề cao cảnh giác cả với 21 những người thân thiết. Qua kết quả khảo sát trên có thể thấy tỷ lệ trẻ có kĩ năng phòng tránh xâm hại thân thể còn rất thấp. Điều đó cũng khẳng định rằng việc giáo dục trẻ kỹ năng phòng tránh xâm
- hại thân thể cho trẻ chưa được quan tâm đúng mức, phương pháp và biện pháp thực hiện còn bất cập, chưa mang lại hiệu quả cao. 3.2. Nguyên nhân Từ những hạn chế trên tôi rút ra một số nguyên nhân sau: - Một là: Do giáo viên tại lớp còn kiêm nhiệm thêm những công việc của trường nên chưa thực sự quan tâm, sát sao trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ. - Hai là: Do bị ảnh hưởng quá nhiều bởi kinh tế, xu thế phát triển của xã hội, cha mẹ trẻ chưa dành nhiều thời gian cho con, phó mặc sự dạy dỗ con cho ông bà, nhà trường hoặc cho con xem tivi, điện thoại. - Hai là: Có những gia đình cha mẹ nghiện ngập cờ bạc, rượu chè khiến ảnh hưởng quá lớn đến tâm hồn của trẻ. - Ba là: Nhiều cha mẹ quá chiều chuộng con cái khiến trẻ luôn ỉ lại, thiếu sự sáng tạo, còn lúng túng khi xử lí các tình huống liên quan đến bảo vệ bản thân. 3.3. Biện pháp giáo dục kĩ năng phòng tránh xâm hại thân thể cho trẻ lớp mẫu giáo 5-6 tuổi ở Trường Mầm non. Là giáo viên mầm non, bản thân tôi nhận thức được vai trò tầm quan trọng của việc dạy trẻ kỹ năng phòng tránh xâm hại thân thể cho trẻ, tôi thấy để trẻ có kĩ năng phòng tránh xâm hại thân thể thì cần được giáo dục những nội dung: Dạy trẻ hiểu được các bộ phận trên cơ thể, đặc biệt là vùng riêng tư; Dạy trẻ quy tắc 5 ngón tay; Xây dựng các tình huống giả thiết giúp trẻ có cách xử lí thông minh, nhanh nhẹn hơn. Tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp sau: 3.3.1. Biện pháp 1: Dạy trẻ cách gọi tên chính xác bộ phận riêng tư trên cơ thể. Dạy cho trẻ hiểu được như thế nào là vùng kín, vùng riêng tư? Gọi tên chính xác các bộ phận trên cơ thể được gọi là vùng riêng tư. Vùng riêng tư bao gồm: Miệng, ngực, mông và vùng kín.
- Hình ảnh: Dạy trẻ cách gọi tên chính xác các bộ phận riêng tư trên cơ thể Việc dạy trẻ hiểu được khái niệm vùng riêng tư theo tôi là rất quan trọng vì nếu trẻ biết được bộ phận nào trên cơ thể mình được gọi là vùng riêng tư thì trẻ có thể tự bảo vệ vùng riêng tư và biết tránh khỏi nguy cơ bị xâm hại. Hiện nay, việc giáo viên dạy trẻ biết và hiểu như thế nào là vùng riêng tư rất ít, một số giáo viên còn e ngại vì cho rằng đó là một việc tế nhị khó, nói ra. Tôi đã đưa các nội dung dạy trẻ kỹ năng bảo vệ xâm hại trẻ vào các chủ đề. Ví dụ: Chủ đề Bản thân + Lĩnh vực phát triển nhận thức: Khám phá kha học “Trò chuyện về cơ thể bé” + Lĩnh vực phát triển thẩm mĩ: Tạo hình “Bé hãy dán những bộ phận còn thiếu trên khuôn mặt” + Lĩnh vực phát triển tình cảm và kĩ năng xa hội: Kĩ năng bảo vệ bản thân theo quy tắc 5 ngón tay Dạy trẻ gọi tên chính xác các bộ phận vùng riêng tư chính là một cách để bảo vệ trẻ vì:
- Nếu đứa trẻ bị ai đó chạm vào vùng riêng tư một cách không phù hợp bé có thể kể cho 1 người lớn đáng tin cậy của bé một cách chính xác. Từ đó người lớn sẽ quan tâm và có biện pháp ngăn ngừa kịp thời. Nếu đứa trẻ nói với kẻ có ý định xấu: “Đừng lại gần và không được chạm vào vùng riêng tư của tôi”, kẻ đó biết rằng bé đã được trang bị kiến thức an toàn cơ thể. Từ đó tôi thấy rằng một đứa trẻ hiểu biết sẽ có ít nguy cơ trở thành mục tiêu của những kẻ xâm hại. Qua bài học ở lớp trẻ có thể gọi tên chính xác các bộ phận riêng tư trên cơ thể ngay từ đầu giúp bố mẹ dễ dàng giải thích cho trẻ hiểu sự thay đổi trên cơ thể trẻ khi bước vào giai đoạn dậy thì, trẻ sẽ không còn e ngại hay lúng túng nào nữa mà cởi mở tâm sự với bố mẹ về những thay đổi của bản thân. Do đó việc sử dụng thuật ngữ chính xác gọi tên “các bộ phận riêng tư” sẽ một phần giúp bảo vệ nạn xâm hại trẻ em. 3.3.2. Biện pháp 2: Dạy trẻ quy tắc 5 ngón tay, với quy tắc này mỗi một ngón tay tương ứng với một quy tắc. - Ngón cái: Gần mình nhất tượng trưng cho những người thân ruột thịt trong gia đình như ông bà, bố mẹ, anh chị em ruột. Bé có thể ôm hôn những người này hoặc đồng ý để các thành viên trong nhà ôm hôn và tắm rửa cho bé khi bé còn nhỏ, nhưng khi đã lớn bé sẽ tự tắm và thay quần áo trong phòng kín. - Ngón trỏ: Tượng trưng cho thầy cô, bạn bè ở trường lớp hoặc họ hàng của gia đình, những người này có thể nắm tay, khoác vai hoặc chơi đùa. Nếu ai chạm vùng đồ bơi trẻ hét to và gọi người lớn
- Hình ảnh: Trẻ chơi cùng các bạn - Ngón giữa: Người quen biết nhưng ít khi gặp như hàng xóm, bạn bè của cha mẹ, những người này bé chỉ nên bắt tay cười và chào hỏi. - Ngón áp út: Người quen của gia đình mà bé mới gặp lần đầu. Với những người này bé chỉ lên dừng lại ở mức vẫy tay hoặc cúi đầu chào. - Ngón út: Ngón tay xa bé nhất thể hiện cho những người hoàn toàn xa lạ hoặc người có cử chỉ thân mật quá mức, khiến bé thấy lo sợ, bất an. Với những người này bé hoàn toàn có thể bỏ chạy, hét to, khóc... để thông báo cho mọi người xung quanh.
- Hình ảnh: Trẻ không nhận quà từ người lạ Ví dụ: Chủ đề bản thân: tôi dạy trẻ trong lĩnh vực Phát triển TC&KNXH với hoạt động “Kĩ năng bảo vệ bản thân theo quy tắc 5 ngón tay”
- Hình ảnh: Dạy trẻ hoạt động “Kĩ năng bảo vệ bản thân theo quy tắc 5 ngón tay” Lĩnh vực phát triển TC&KNXH Tôi đặt ra những câu hỏi để trao đổi với trẻ như: + Theo quy tắc 5 ngón tay ngón cái là ngón gồm những ai? + Đối với những người rất gần gũi trong gia đình thì các con sẽ giao tiếp như thế nào? + Đối với cô giáo, bạn bè thì con sẽ giao tiếp như thế nào? (ngón trỏ theo quy tắc 5 ngón tay) + Nếu những người như hàng xóm, bạn bè của bố mẹ, người lạ có ý định nhìn hoặc chạm vào vùng riêng tư của con, thì con phải làm gì? 3.3.3. Biện pháp 3: Xây dựng tình huống giả thiết Bên cạnh đó trong các hoạt động dạy kỹ năng, tôi thường xuyên xây dựng lên các tình huống đặt giả thiết cho trẻ như: * Tình huống 1: Nếu ai đó cố tình nhìn, nói, đụng chạm vào vùng riêng tư của con hoặc yêu cầu con nhìn và đụng chạm vào vùng riêng tư của họ thì các con sẽ làm gì? Bước 1: Nói không, xua tay, cắn thật mạnh vào tay, vai kẻ xấu. Bước 2: Bỏ chạy, chạy thật nhanh đến nơi đông người, đồng thời hô to để mọi người chú ý đến mình. Bước 3: Kể lại tất cả câu chuyện mà người xấu đã làm với con cho bố mẹ và những người con tin tưởng, để người lớn kịp thời can thiệp và bảo vệ các con được an toàn. * Tình huống 2: Nếu có người lạ cho con tiền, quà có giá trị, bánh, kẹo hoặc sự chăm sóc đặc biệt của người khác mà không rõ lí do thì con sẽ làm thế nào? Bước 1: Con sẽ không lấy bất kì đồ gì từ người đó. Bước 2: Con sẽ tránh xa người đó, đi đến nơi đông người, đồng thời kể lại chuyện con đã gặp với người lớn.
- Ngoài các biện pháp trên tôi còn hướng dẫn trẻ thuộc số điện thoại của bố, mẹ hoặc số đường dây nóng “Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111” (do cục Trẻ em, Bộ LĐ-TBXH quản lí) 4. Kết quả Qua việc áp dụng:“Biện pháp giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại thân thể cho trẻ lớp mẫu giáo 5-6 tuổi A1 ở Trường Mầm non Phố Cò” tôi đã thu được kết quả sau: Kết quả so sánh sau khi áp dụng biện pháp giáo dục kĩ năng phòng tránh xâm hại thân thể cho trẻ lớp mẫu giáo 5-6 tuổi A1 (tháng 11/2021) Trước khi áp dụng biện Sau khi áp dụng biện pháp TS trẻ pháp khảo Nội dung Trẻ đạt Trẻ chưa đạt Trẻ đạt Trẻ chưa đạt sát khảo sát Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ trẻ trẻ trẻ trẻ 1. Trẻ biết các bộ phận trên cơ thể, đặc biệt là vùng riêng tư 2. Trẻ biết về danh giới cá nhân 3. Trẻ thường kể về các hoạt động hàng ngày của trẻ
- 4. Trẻ có kĩ năng xử lí khi gặp phải các tình huống nguy hiểm 5. Trẻ có đề cao cảnh giác cả với những người thân thiết Qua kết quả trên chúng ta thấy rõ rằng tỉ lệ trẻ biết và có các kĩ năng phòng tránh xâm hại thân thể khá cao, khẳng định bản thân tôi đã đi đúng hướng, biện pháp tôi thực hiện hoàn toàn phù hợp phụ huynh đã hiểu được tầm quan trọng việc giáo dạy kỹ năng phòng tránh bị xâm hại cho trẻ. Quan tâm và giành nhiều thời gian cho trẻ, cùng trẻ nói chuyện, vui chơi, tránh để trẻ tiếp xúc nhiều với tivi, điện thoại Phối hợp thường xuyên cùng các cô giáo trong việc dạy trẻ kỹ năng phòng tránh xâm hại. 5. Kết luận Qua tìm và thực hiện “Biện pháp giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại thân thể cho trẻ lớp mẫu giáo 5-6 tuổi ở Trường Mầm non ” tôi nhận thấy nội dung giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cho trẻ ở bậc học mầm non là rất cần thiết đặc biệt là với trẻ 5 tuổi. Có ý nghĩa to lớn cho sự phát triển toàn diện về thể chất cũng như tâm sinh lí của trẻ. Điều này giúp trẻ có những kiến thức cơ bản ban đầu để phòng tránh xâm hại thân thể, giúp trẻ thêm tự tin, năng động trong cuộc sống. Để làm được điều đó đòi hỏi mỗi giáo viên phải không ngừng học tập nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp, thường xuyên tổ chức các hoạt động trải nghiệm dưới nhiều hình thức khác nhau để trẻ được chơi, giao lưu, tham gia, được xử lí, được giải quyết các tình huống từ đó giúp trẻ nâng cao nhận thức cho bản thân đặc biệt nhận thức về bảo vệ, tránh tò mò, người lớn đặc biệt là cha mẹ trẻ luôn gần gũi thân thiện lắng nghe ý kiến
- của trẻ và chia sẻ với trẻ. Giữ mối liên hệ thường xuyên giữa gia đình và nhà trường cùng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ. Tuy nhiên do bản thân chưa có nhiều kinh nghiệm nên trong quá trình nghiên cứu và thực hiện các biện pháp vẫn còn nhiều hạn chế. Rất mong nhận được ý kiến góp ý, chia sẻ của Hội đồng khoa học, Hội đồng chấm thi và bạn đồng nghiệp để biện pháp của tôi hoàn thiện hơn./. Xin chân thành cảm ơn!

