Báo cáo Biện pháp Dạy học phân hóa - Nâng cao chất lượng môn Tiếng Anh

docx 21 trang Chăm Nguyễn 01/07/2025 540
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Biện pháp Dạy học phân hóa - Nâng cao chất lượng môn Tiếng Anh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_bien_phap_day_hoc_phan_hoa_nang_cao_chat_luong_mon_t.docx

Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Dạy học phân hóa - Nâng cao chất lượng môn Tiếng Anh

  1. MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG I. MỞ ĐẦU 3 - 4 1.Tính cấp thiết 3 2. Mục tiêu 4 3. Đối tượng và phương pháp thực hiện 4 II. NỘI DUNG 4 - 10 1.Cơ sở lý luận 4 2.Thực trạng 5 3.Các biện pháp thực hiện 6 - 9 4.Thực nghiệm sư phạm 9 - 10 III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 10 - 12 1. Ưu điểm và hạn chế của biện pháp 10 2. Phương hướng khắc phục các hạn chế 10 - 11 3. Khả năng triển khai rộng rãi biện pháp 12 IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO 13 V. PHỤ LỤC 14-19 3
  2. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT STT Chữ viết tắt Viết đầy đủ 1 HS Học sinh 2 DHPH Dạy học phân hoá 3 GV Giáo viên 4 SGK Sách giáo khoa 5 THCS Trung học cơ sở 6 THPT Trung học phổ thông 4
  3. . MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Bản chất của giáo dục là gì? Phải chăng là hướng đến sự phát triển của mỗi cá nhân? Giúp con người tìm thấy giá trị của bản thân mình? Giáo dục giúp con người tìm thấy niềm vui, niềm hạnh phúc ? Tưởng chừng như đó là những điều căn cốt nhất mà mỗi trường học, mỗi lớp học và mỗi giáo viên luôn hướng đến. Tuy nhiên, vì những lý do khách quan và chủ quan, chúng ta vô hình chung đã biến giáo dục thành một mô hình khô cứng theo kiểu “một cỡ vừa cho tất cả”. Chúng ta dạy cùng một nội dung, theo một cách, kiểm tra theo cùng một kiểu và phân loại đánh giá theo cùng một thang. Điều này khiến cho công việc dạy học biến thành một ngành sản xuất theo những tiêu chuẩn nhất định. Nhưng nếu chịu khó quan sát kĩ hơn một chút, chúng ta sẽ nhận thấy rằng trong một lớp học có bao nhiêu học sinh thì sẽ có bấy nhiêu khuôn mặt, bấy nhiêu sở thích, tính cách, năng lực, trình độ và phong cách học tập. Thật không công bằng khi những học sinh có thiên hướng về nghệ thuật bị đánh giá là “không đạt” khi bài kiểm tra chỉ hướng đến đánh giá các môn Toán và tiếng Việt. Nhiều học sinh bị coi là hư, láo, ngỗ nghịch, bất trị khi chúng có cách học khác với cách mà giáo viên và người lớn mong muốn. Đã đến lúc chúng ta cần nhìn lại về mục đích của giáo dục, cần xem lại về các phương pháp giảng dạy và chương trình học mà chúng ta đang áp dụng để có thể tạo nên sự công bằng giữa các học sinh. “Nếu bạn đánh giá một con cá bằng khả năng leo cây thì cả đời nó phải sống với niềm tin rằng, nó là kẻ ngu ngốc” (Albert Einstein). Dạy học phân hóa (DHPH) là xu thế của quá trình giáo dục nói chung và dạy học nói riêng. Nhiều nghiên cứu của các nhà giáo dục học đã chứng minh rằng mỗi cá nhân HS có một năng lực nhận thức, phong cách học khác nhau (Armstrong, 2009; DellaVedova, 2002). Hơn nữa, DHPH là một trong những quan điểm dạy học cho phép “tối đa hóa” yếu tố cá nhân cho người học (Bravmann S., 2004; Dana T.J., 2000). Theo tôi, phân hóa cũng là một trong những quan điểm để xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông nói chung và Chương trình môn tiếng Anh 2018 nói riêng ở Việt Nam. Do đó, việc thiết kế và tổ chức các hoạt động dạy học tiếng Anh theo định hướng phân hóa là một trong những yếu tố nhằm đảm bảo việc thực hiện được quan điểm xây dựng và thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới. Bài viết này tóm lược trình bày quan niệm về DHPH, đề xuất quy trình và nêu ví dụ minh họa cho việc DHPH trong dạy học môn Tiếng Anh cho HS THCS. Từ đó, GV có một số kĩ thuật, biện pháp thiết thực, có thể sử dụng nhằm nâng cao hiệu 5
  4. quả dạy học môn tiếng Anh cho HS THCS thông qua cách thức tiếp cận phân hóa trong dạy học. 2. Mục tiêu - DHPH nhằm huy động mọi năng lực, sở trường, hứng thú của từng học sinh để tự HS tìm tòi, khám phá ra nội dung mới của bài học. - Phân bố học sinh theo từng trình độ nhận thức, giao nhiệm vụ phù hợp với từng nhóm học sinh tạo điểu kiện cho HS phát hiện ra các tình huống có vấn đề, tự mình hoặc cùng các bạn trong nhóm lập kế hoạch để giải quyết hay tiếp nhận vấn đề một cách thuận lợi nhất. - DHPH để phát huy năng lực, sở trường của HS tạo cho họ niềm tin và niềm vui khi học tập. - DHPH nhằm khuyến khích cho GV chủ động và sáng tạo trong dạy học, đồng thời yêu cầu GV trân trọng mọi cố gắng dù là nhỏ nhất của người học. 3. Đối tượng và phương pháp thực hiện 3.1. Đối tượng - Học sinh khối lớp 6D4 trường THCS Thị trấn Tiên Lãng- Hải Phòng. 3.2. Phương pháp thực hiện Để thực hiện đề tài này, tôi đã ấp ủ nghiên cứu cả năm dòng bằng một số phương pháp sau: + Đọc và xem tài liệu về những vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu. + Sử dụng phương pháp tổng hợp thu thập. + Hỏi giúp đỡ từ các thầy, cô đồng nghiệp ở trường. + Điều tra lấy ý kiến từ các em học sinh. + Áp dụng vào các tiết dạy để phân tích nghiên cứu. II. NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận Dựa trên những khía cạnh quan tâm nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra nhiều quan niệm về DHPH (Differentiated instruction). DHPH là cách tiếp cận dạy và học đáp ứng những đối tượng HS khác nhau trong cùng một lớp nhằm mục đích “tối đa hóa” năng lực của mỗi cá nhân bằng cách tạo ra cho người học quá trình dạy học phù hợp nhất với họ (Bravmann, 2004). Nói chung, DHPH được xem như là một cách tiếp cận, nguyên tắc hay là một phương pháp dạy học mà ở đó, quá trình điều chỉnh nội dung dạy học, kế hoạch dạy học và môi trường học nhằm đáp ứng được nhu cầu học tập đa dạng của tất cả HS (Đặng Thành Hưng, 2005; Lê Thị Thu Hương, 2012); và để DHPH, GV chia HS thành các nhóm đối tượng khác nhau theo 6
  5. trình độ học vấn, năng lực nhận thức, ngôn ngữ, khả năng tư duy, sở thích, nhu cầu Dựa trên các quan điểm này, chúng tôi cho rằng: “DHPH là một quan điểm dạy học mà ở đó GV điều chỉnh quá trình dạy học cho phù hợp với từng cá nhân hoặc nhóm HS nhằm phát triển tối đa năng lực học tập của mỗi HS”. 2. Thực trạng Hiện nay môn Tiếng Anh đã được đưa vào dạy ở bậc phổ thông từ các trường tiểu học, THCS đến THPT. Đối với trường THCS Thị trấn Tiên Lãng – là một trường nằm trên địa bàn trung tâm huyện, học sinh với điều kiện dân trí khá cao, điều kiện học tập và giao lưu thuận lợi nên nhận thức được tầm quan trọng của việc học, đặc biệt là môn Tiếng Anh. Theo kết quả thi vào THPT thực tế, tỷ lệ học sinh đạt điểm trung bình trở lên của môn Tiếng Anh của trường luôn thấp hơn so với các môn thi tốt nghiệp khác. Đây là 1 thực tế đáng buồn đối với những giáo viên dạy môn tiếng Anh như chúng tôi. Cũng phải nói rằng Tiếng Anh là một môn học khó đối với tất cả học sinh, sinh viên không chỉ ở thành phố mà còn với học sinh ở huyện, ở trường chúng tôi. Với Tiếng Việt học sinh còn nói và viết không đúng dẫn đến tình trạng học sinh nói và viết sai từ Tiếng Anh là rất phổ biến. Mặc dù học sinh đã được học Tiếng Anh 4 năm ở bậc THCS nhưng khi học đến lớp 9 rất nhiều em học sinh không biết viết và nói Tiếng Anh, hay không biết phân biệt các từ loại như động từ, danh từ, tính từ Tiếng Anh là môn thi bắt buộc trong kỳ thi đầu vào THPT nhưng rất nhiều học sinh vẫn không chịu khó học, hoặc chỉ học đối phó, chủ quan dẫn đến mất gốc, học kém. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến thực trạng này? Nguyên nhân học kém môn Anh: Về phía học sinh: + Nhiều học sinh học thấy Tiếng Anh là môn học khó, học không vào nên có tâm lý sợ học môn Tiếng Anh, chỉ học đối phó ở trên lớp, về nhà không chịu học. + Về chương trình sách giáo khoa: Chương trình SGK mới rất hay song độ khó cũng cao hơn và có thể khó với HS ở nông thôn, với những học sinh tư duy chậm thì không thể theo được. Mặt khác, chương trình có sự tích hợp, liên thông với các môn văn hóa khác, đòi hỏi học sinh có 1 trình độ văn hóa nhất định mới đáp ứng được yêu cầu. Vì vậy, nhiều học sinh không kham nổi chương trình SGK Tiếng Anh mới. Hơn thế, học sinh phải học quá nhiều môn, do vậy mà thời gian dành cho môn Tiếng Anh càng bị san sẻ. + Sức học của HS còn hạn chế, nội dung chương trình sách giáo khoa không phù hợp với sở thích của HS và yêu cầu cần đạt cao hơn so với năng lực còn hạn chế 7
  6. của HS, kiến thức đòi hỏi có sự liên thông mà HS thì chưa thực sự chú ý nên chỉ được một số ít HS, còn nhiều em học trước quên sau. - Về phía giáo viên: + Giáo viên tuy có nhiều cố gắng trong việc vận dụng phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hóa các hoạt động của học sinh, nhưng giáo viên chỉ có thể áp dụng được với một số bài, một số tiết dạy và một số bộ phận học sinh. + Một phần do một số giáo viên bị hạn chế về mặt thời gian nên ít chịu khó đầu tư vào các tiết dạy, ít quan tâm tìm tòi những phương pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh nên chất lượng và hiệu quả dạy học của bộ môn chưa thực sự như mong muốn. Nhiều hoạt động dạy học tích cực chỉ mới được sử dụng có tính hình thức chưa được đầu tư, chuẩn bị đúng mức và triển khai đúng quy trình nên chưa đạt hiệu quả cao. Các đối tượng học sinh yếu chưa được quan tâm đúng mức để tạo điều kiện cho các em vươn lên. - Về phía các đoàn thể, tổ chuyên môn: Tổ chuyên môn chưa tạo được một môi trường học ngoại ngữ, chưa tạo được một sân chơi để thu hút, lôi cuốn các em thích học bộ môn tiếng Anh và hiểu được tầm quan trọng của bộ môn tiếng Anh. 3. Các biện pháp thực hiện Dựa trên những cơ sở lí luận và thực tiễn đã nghiên cứu, chúng tôi đề xuất quy trình thực hiện DHPH môn tiếng Anh ở THCS như sau: 3.1 Tìm hiểu đối tượng. Ngay từ đầu năm học, giáo viên cần tìm hiểu về sở thích, năng lực, trình độ nhận thức của học sinh thông qua học bạ, các bạn cùng lớp, bài kiểm tra khảo sát đầu năm, các tiết ôn tập để có thể hiểu rõ đối tượng của quá trình dạy học và có thể phân thành nhóm HS khá giỏi, nhóm HS trung bình hay yếu kém, nhóm HS có tư duy nhanh, nhóm HS có năng lực nghe tốt, nhóm HS có khả năng thị giác Từ đó lập ra mục tiêu, thiết kế hoạt động học phù hợp với đối tượng. 3.2 Viết mục tiêu bài học. Một giáo án có hiệu quả phải bắt đầu bằng một mục tiêu rõ ràng và phù hợp. Mục tiêu miêu tả đích mà GV muốn HS đạt được. Mục tiêu được viết tốt và rõ ràng là bước đầu tiên của một giáo án. Những mục tiêu này giúp khẳng định chính xác cái mà GV muốn HS học, giúp hướng dẫn lựa chọn các hoạt động phù hợp và giúp cung cấp nội dung trọng tâm và định hướng toàn bài. Chúng còn cung cấp cho GV cách đánh giá những điều HS đã học được ở cuối bài học. Mục tiêu bài học thường bao gồm ba yếu tố là mức độ thể hiện mức độ nhận 8
  7. thức (performing level), mục tiêu nội dung (target content) và điều kiện để mức độ trình độ đạt tới (learning condition) Mức độ nhận thức (performing level) là khả năng HS có thể đảm nhận, đạt được sau khi kết thúc bài học. Nó thường bắt đầu bằng một động từ. Với môn Tiếng Anh thì việc viết mục tiêu có thể sử dụng danh sách các động từ hành động trong bảng Bloom’s Taxonomy. Cụ thể mức độ nhận thức kiến thức có thể sử dụng “arrange, describe, identify, match, label ”, về khả năng thông hiểu GV có thể sử dụng “Discuss, Describe, Express,, rewrite ”, về mức độ vận dụng GV có thể dụng các động từ như “apply, practice, choose..” Ví dụ: ENGLISH 6. UNIT 1: MY NEW SCHOOL Lesson 2: A Closer look 1 I. OBJECTIVES: By the end of the lesson, students are expected to achieve the following objectives: 1. Knowledge - Vocabulary: identify the meaning of the words: physics, history, homework, exercise, vocabulary, lessons, music, science, judo, football, - Language: use phrases: play..., do ..,have.., study..(combine with the words above) - Pronunciation: correctly pronounce the sounds /a: / and /ʌ / in isolation and in context 2. Competencies: a. General competencies: Form interpersonal skill and improve self-study skill b. Specific competencies: Ss are expected to know some more words relating to the topic of the unit, distinguish the pronunciation of /ɑː/ and /ʌ/, then do the tasks that follow. 3. Qualities: Ss will have good attitude to join in the tasks of the unit as well as be active to cooperate with their partners. 3.3 Thiết kế các hoạt động trong dạy học phân hoá. Khi thiết kế hoạt động trong dạy học phân hoá cần chú ý đến các hoạt động: - Học qua thị giác (Visual learning) - Học qua thính giác (Auditory learning) - Học qua vận động (Kinesthetic learning) - Học theo năng lực (Weaker students and Stronger students) * Hoạt động học qua thị giác. - Tic tac toe. - Watch the clip and say the things/ activities you see. 9
  8. Ví dụ: ENGLISH 6. UNIT 2: MY HOUSE Lesson 3: A closer look 2 Act 3: T shows the picture on the screen and asks students to write the correct prepositions and then say a sentence to describe the picture. Hình 1. Hoạt động học qua thị giác * Hoạt động học qua thính giác. - Story telling - Picture numbering. Ví dụ: ENGLISH 6. UNIT 1: MY NEW SCHOOL Lesson 1: Getting started. Act 4: Ask students to listen and match the words with the things they can hear. Hình 2. Hoạt động học qua thính giác 10
  9. * Các hoạt động qua vận động: - Songs: listen to a song and mime the action - Acting out: - Simon says - Network Ví dụ: ENGLISH 6. UNIT 3: MY FRIENDS Lesson 1: Getting started. Warm up: Let students sing and mime the action according to the song “ If you happy and you know it” * Các hoạt động học theo năng lực. Ví dụ: ENGLISH 6. UNIT 3: MY FRIENDS Lesson 2: Acloser look 2 Act 2: For stronger students: Use the adjectives in the box to complete the sentences For weaker students: Choose the best option for each sentence. Act 2: Use the adjectives in the bracket to complete the Act 2: Use the adjectives in the sentences box to complete the sentences 1. Mina is very___________. She likes careful creative shy drawing pictures. She always has kind clever friendly lots of new ideas. (kind/ creative) 1. Mina is very___________. She 2. Nam is___________. He likes likes drawing pictures. She helping his friends. (shy/ kind) always has lots of new ideas. 3. Minh Dục is___________. He likes 2. Nam is___________. He likes meeting new people. (clever/ helping his friends. friendly) 3. Minh Dục is___________. He likes 4. Kim is very___________. She pays meeting new people. attention to what she's doing. 4. Kim is very___________. She pays (careful/ shy) attention to what she's doing. 5. Mai is___________. She learns 5. Mai is___________. She learns things quickly and easily. (careful/ things quickly and easily. creative) STRONGER STUDENTS WEAKER STUDENTS Hình 3. Hoạt động học theo năng lực 11
  10. 4. Thực nghiệm sư phạm. Qua thực tế giảng dạy các năm qua với phương pháp dạy học phân hoá trong các tiết dạy, tôi đã thu được các kết quả sau: - Nhiều HS có thể nắm được bài ngay tại lớp, các em rất hào hứng và sôi nổi học . Nhiều em học sinh trước đây rất nhút nhát, không dám nói trước lớp thì giờ đây đã tự tin hơn khi giao tiếp. Các em không phân biệt bạn dốt bạn giỏi, tạo lớp học đoàn kết. - Không khí trong các giờ học không bó buộc, gò ép đối với các HS - HS tích cực, tự tin tham gia vào quá trình học một cách tự nhiên. - Khuyến khích được HS chủ động tiếp xúc với các chủ đề mới, tạo ra những trải nghiệm đầy hào hứng, giúp HS phát triển giá trị tích cực, tư duy phân tích. - Kết quả học tập của học sinh ở lớp 6D4 tôi giảng dạy cũng đã có nhiều chuyển biến tích cực, cụ thể: Thời gian Số học Đạt mức độ Đạt mức độ Đạt mức độ Yếu/ sinh giỏi khá trung bình Kém Đầu năm học 43 10 7 18 8 Giữa kì I 43 15 8 13 7 Cuối kì I 43 23 10 6 4 So sánh với đầu năm học (Tăng:+,Giảm - ) - GK1 +5 + 1 - 5 -1 - CK1 +13 + 3 - 12 -4 III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 1. Ưu điểm và hạn chế của biện pháp. Ưu điểm của biện pháp.: Qua quá trình áp dụng “Dạy học phân hoá - Nâng cao chất lượng môn Tiếng Anh”, tôi nhận thấy học sinh ngày càng có nhiều tiến bộ về học tập, cụ thể : - Tỉ lệ học sinh xếp loại trung bình môn cuối học kì 1: tỉ lệ khá, giỏi tương đối cao; tỉ lệ yếu, trung bình giảm đi rõ rệt so với mức thống kê đầu năm. - Các em không còn sợ học bộ môn Tiếng Anh mà đã dần làm quen và rất hứng thú, chất lượng học tập từ đó cũng đã tăng lên khá đồng đều. - Học sinh tích cực hơn trong mọi hoạt động học tập môn Tiếng Anh. - Các tiết học trở nên sôi nổi và sinh động hơn. 12
  11. - Vốn từ vựng của các em đã được cải thiện đáng kể, việc luyện tập các kỹ năng Nghe – Nói – Đọc – Viết cũng trở nên thành thạo, dễ dàng hơn. - Dựa vào các hoạt động phân hoá phù hợp đối tượng, các em học sinh yếu kém có thể luyện tập áp dụng vào những dạng bài tập đơn giản. Những học sinh khá, giỏi có thể vận dụng trong những kiến thức, kỹ năng phức tạp hơn, tạo nên nhiều động lực, hứng thú học tập cho các em trong giờ học Tiếng Anh. Mục đích cuối cùng của biện pháp này cũng là để nâng cao chất lượng học tập, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, làm cho các em ngày càng yêu thích bộ môn Tiếng Anh. Hạn chế của biện pháp: Khi thiết kế tiết học phân hoá, khó khăn lớn nhất của giáo viên là vấn đề thời gian. Để chuẩn bị tốt các hoatj động, giáo viên phải tốn khá nhiều thời gian nghiên cứu, thiết kế, biên soạn cho phù hợp với đối tượng học sinh và đạt hiệu quả cao nhất. Việc áp dụng DHPH đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt, biết cách tổ chức và biết kết hợp tốt phương tiện dạy học. 2. Phương hướng khắc phục các hạn chế DHPH là một phương pháp dạy học có nhiều ưu điểm nhưng cũng tồn tại hạn chế. Để phát huy ưu điểm cần áp dụng linh hoạt – phù hợp với nội dung kiến thức. Do đó, giáo viên cần kết hợp DHPH với các phương pháp dạy học khác nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. DHPH được tổ chức dưới các hình thức như: Phân hóa theo hứng thú, phân hóa theo sự nhận thức, phân hóa giờ học theo học lực, phân hóa giờ học theo động cơ, lợi ích học tập của người học. Vì vậy, dạy học phân hóa phải tạo dựng môi trường từ lớp dưới để những học sinh có năng khiếu nào thì có cơ hội phát triển năng khiếu, sở trường đó. Đối với DHPH , giáo viên cần hiểu rõ đối tượng giáo dục. Từ năng lực hiểu đối tượng giáo dục, giáo viên cần có một năng lực quan trọng là thiết kế công cụ dạy học. Đó là hệ thống câu hỏi, phiếu bài tập, bài kiểm tra .. phù hợp với từng đối tượng học sinh và thể hiện được sự phân hóa. Những công cụ ấy phải vừa đảm bảo được mục đích chung là giúp học sinh nắm vững những kiến thức cơ bản vừa phù hợp với nhận thức và học lực của từng đối tượng học sinh để góp phần phân hóa được đối tượng học sinh. 13