Báo cáo Biện pháp Biện pháp rèn viết chính tả đúng, đẹp cho học sinh Lớp 1
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Biện pháp Biện pháp rèn viết chính tả đúng, đẹp cho học sinh Lớp 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_bien_phap_bien_phap_ren_viet_chinh_ta_dung_dep_cho_h.doc
Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Biện pháp rèn viết chính tả đúng, đẹp cho học sinh Lớp 1
- 2. Phạm vi triển khai thực hiện chuyên đề - Thực hiện ở nội dung viết chính tả, môn Tiếng Việt; lớp 1A3, năm học 2019 - 2020. 3. Mô tả biện pháp rèn viết chính tả đúng, đẹp cho học sinh lớp 1. 3.1. Hướng dẫn học sinh tư thế ngồi viết, cách đặt vở và cầm bút. * Cách thực hiện: - Làm mẫu cho học sinh quan sát, tập ngồi viết đúng tư thế. Ngồi viết sao cho ngay ngắn, lưng thẳng không tì ngực vào bàn, hai chân đặt song song, vuông góc với mặt đất, đầu hơi cúi, mắt cách vở từ 25 - 30cm không xê dịch vở khi viết luôn luôn quan sát, nhắc nhở các em trong khi viết về tư thế ngồi đúng. - Làm mẫu cho học sinh quan sát cách cầm bút bằng tay phải, tay trái giữ mép vở, cầm bút và điều khiển bút bằng 3 đầu ngón tay (ngón trỏ, ngón cái, ngón giữa) của bàn tay. Vở viết đặt nghiêng so với mép bàn một góc khoảng 15 o (nghiêng về bên trái). - Trong khi viết học sinh hay quên thường thay đổi tư thế ngồi viết tôi thường xuyên sửa tư thế ngồi viết cho từng em. Lặp đi lặp lại nhiều lần như vậy các em cũng hình thành được thói quen ngồi viết đúng. 3.2. Luyện viết các nét cơ bản. * Cách thực hiện: - Đầu tiên tôi kẻ bảng lớp giống với bảng con và vở ô ly của học sinh để các em dễ quan sát và học theo. - Cho học sinh nhận biết hình dạng, thuộc tên gọi của từng nét. - Tổ chức luyện viết các nét vào buổi 2 và lồng ghép vào tiết học tập viết và viết chính tả. - Luyện viết các nét trên bảng con, trên vở ô ly theo quy trình từng nét: + Nét cong: điểm đặt bút ở phía trên hoặc phía dưới vòng sang trái hoặc sang phải tạo nét cong kín hoặc cong trái, cong phải. + Nét móc ngược: điểm đặt bút xuất phát từ đường kẻ ngang thứ ba, kéo thẳng xuống gần đường kẻ ngang một thì lượn cong sang bên phải nét bút chạm đường kẻ ngang một rồi đưa cong lên. Độ rộng của nét cong bằng 1/3 đơn vị. Điểm dừng bút ở đường hai. + Nét móc xuôi: điểm đặt bút từ đường kẻ ngang hai một chút, lượn cong tròn nét bút sang bên phải (Phần cong này có độ rộng bằng 1/3 đơn vị) sau đó viết tiếp nét thẳng đến khi chạm vào đường kẻ ngang một thì dừng lại. + Nét móc 2 đầu: cách viết này là sự phối hợp cách viết nét móc phải và nét móc trái. Cần lưu ý phía trên rộng gấp đôi nét móc bình thường phần nét móc phía dưới bằng độ rộng của nét móc ngược. 3
- + Nét khuyết trên: điểm đặt bút đường kẻ ngang hai sau đó đưa nét bút sang phải và lượn cong lên trên chạm vào đường kẻ ngang sáu thì kéo thẳng xuống đường kẻ ngang một, điểm dừng bút ở đường kẻ ngang một. + Nét khuyết dưới: điểm đặt bút ở đường kẻ ngang ba trên kéo thẳng xuống chạm đường kẻ ngang bốn dưới thì lượn cong sang trái, đưa tiếp nét bút sang phải, điểm dừng bút ở đường kẻ ngang thứ 2. + Nét khuyết kép: là kết hợp của hai nét khuyết trên và khuyết dưới. + Nét xoắn: Điểm đặt bút ở đường kẻ một kéo lên trên đường kẻ ngang ba sau đó viết nét xoắn và dừng bút ở đường kẻ ngang thứ 2. + Nét thắt: Điểm đặt bút ở giữa đường kẻ ngang 2 và kẻ ngang 3 kéo lên đường kẻ ngang 3 và thắt ở đường kẻ ngang 2, dừng bút ở giữa đường kẻ ngang 1 và 2. - Khi học sinh luyện viết, tôi chú ý đến nhóm học sinh viết chưa đạt và sửa sai ngay, không vội vàng bỏ qua những lỗi nhỏ của học sinh. Khi học sinh đã nắm chắc các nét cơ bản rồi thì tôi hướng dẫn các em viết nét thanh đậm. 3.2. Hướng dẫn học sinh viết chữ cái. *Cách thực hiện - Hướng dẫn học sinh viết các chữ cái, tôi cho các em nắm chắc quy trình viết: đặt bút, hướng di chuyển của nét viết (lên trên, xuống dưới, sang phải, trái, nét thẳng hay cong...) và điểm dừng bút bằng hình ảnh trực quan (chữ mẫu theo quy định của Bộ Giáo dục- Đào tạo ban hành). - Xác định đường kẻ ngang, dọc, tôi hướng dẫn cho học sinh các chữ cái có độ cao 1 đơn vị được xác định bằng đường kẻ ngang 1 và đường kẻ ngang 2. Các chữ cái có độ cao 2 đơn vị được xác định bằng đường kẻ ngang 1, 2, 3. - Ô vuông trên khung chữ mẫu, các ô vuông này do các đường kẻ ngang, dọc cắt nhau tạo thành, khoảng cách giữa 2 ô vuông nhỏ theo chiều dọc là một đơn vị, chữ có chiều cao là 5 ô vuông (2,5) đơn vị, chữ thường có chiều cao nhỏ nhất là 2 ô (1 đơn vị chữ) chiều rộng tối đa là chữ nhỡ có chiều rộng nhỏ nhất là 1 li rưỡi. - Phân loại cỡ chữ, tôi phân loại hệ thống chữ cái Tiếng Việt thành các nhóm để luyện viết cụ thể là: + Các chữ cái viết thường: Nhóm 1, các chữ có nét cong tròn o, ô, ơ, a, ă, â, d, đ, q, g, c. Nhóm này có điểm đặt bút và hướng di chuyển là giống nhau. Nhóm 2, các chữ có nét khuyết, nét thắt l, b, h, k, r, s, v. Nhóm 3, các chữ có nét móc, nét xiên e, ê, m, n, x, p, i, t, u, ư, y, tr, th, ph, kh, nh, ch, gi, gh, ng, ngh. - Tiến hành luyện viết chữ cái trên bảng con, trên vở ô li. Đối với những học sinh viết đúng, viết đẹp, tôi giao thêm cho các em tập viết nét thanh đậm các 4
- chữ cái đã học. Còn đối với những học sinh chậm, tôi cho luyện nhiều về viết các chữ cái theo mẫu cơ bản. 3.3. Hướng dẫn kĩ thuật nối nét và viết dấu thanh. * Cách thực hiện kĩ thuật nối nét: - Trường hợp 1, nét móc cuối cùng của chữ cái đứng trước nối với nét móc đầu tiên của chữ cái đứng sau. Song cũng có trường hợp cần xê dịch khoảng cách giữa hai chữ cái sao cho vừa phải, hợp lí để chữ viết đều nét và có tính thẩm mĩ. - Trường hợp 2, nét cong cuối cùng của chữ cái trước nối với nét móc hoặc nét hất của chữ cái sau. Đối với trường hợp này cần điều chỉnh về khoảng cách giữa hai chữ cái hoặc chuyển hướng ở cuối nét cong để nối sang nét móc hoặc nét hất sao cho hình dáng chữ cái vẫn rõ ràng và khoảng cách đều. - Trường hợp 3, nét móc hoặc nét khuyết của chữ cái trước nối với nét cong của chữ cái sau. Đối với trường hợp này, khi dạy viết cần lưu ý học sinh điểm kết thúc ở chữ cái trước để lia bút sang chữ cái sau. * Cách thực hiện kĩ thuật viết dấu thanh - Hướng dẫn cho học sinh nắm được tên gọi 6 dấu thanh và các dấu thanh ghi bằng kí hiệu: huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng. - Kích thước dấu thanh bằng 1/2 đơn vị chữ. - Nhận biết dấu thanh: thanh huyền (là một nét xiên phải), thanh sắc (là một nét xiên trái), thanh hỏi (giống như nét móc xuôi), thanh ngã (là một nét lượn), thanh nặng (là một dấu chấm). - Vị trí dấu thanh đánh vào trên hoặc dưới âm chính và không vượt quá đơn vị chữ (li) thứ hai + Khi âm chính là một âm đôi xuất hiện trong âm tiết mở (không có âm cuối) thì dấu thanh được đánh ở âm chính thứ nhất. + Khi âm chính là âm đôi xuất hiện trong âm tiết đóng (có âm cuối ) thì dấu thanh được đặt ở âm chính thứ hai. + Nếu chữ có dấu mũ thì dấu thanh nằm bên phải dấu mũ. - Cách đánh dấu thanh cũng cần đảm bảo sự hài hoà, cân đối, mang tính thẩm mĩ. Các dấu huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng thường được đặt vào vị trí khoảng giữa li (dòng kẻ ngang 4 và 3) đối với những chữ cái a, ă, o, ơ, i (y), u. 3.4. Hướng dẫn viết thành bài chính tả * Cách thực hiện - Đối với việc viết bài chính tả, tôi thực hiện ở hoạt động nghe - viết trong tiết Tiếng Việt buổi 1; luyện nghe - viết buổi 2 chủ yếu cho nhóm học sinh chưa đạt chuẩn. - Nội dung bài viết ở buổi 1 theo chương trình sách giáo khoa, nội dung bài viết buổi 2 do tôi nghiên cứu xây dựng đoạn văn phù hợp với các âm, vần đã học để học sinh nhớ vần hơn. 5
- - Trong giờ học, tôi đọc lần lượt từng tiếng sao cho tất cả các em đều nghe được và viết được thành chữ. Quá trình đọc kết hợp với quan sát học sinh để nhắc nhở về tư thế ngồi, cách cầm bút và hướng dẫn sửa lỗi chính tả, nhắc nhở cách viết sao cho bài viết đúng và đẹp. - Sau khi viết xong, tôi hướng dẫn các em chữa lỗi bằng cách đọc chậm từng tiếng, với những chữ sai, tôi cho học sinh phát âm và viết lại. - Chấm bài và tuyên dương sau khi học sinh viết xong. Học sinh viết xong đều được tuyên dương. Với một số bài chấm có lỗi, tôi hướng dẫn các em phát âm và sửa lại xuống dưới bài. 4. Hiệu quả của chuyên đề mang lại Sau một khoảng thời gian áp dụng từ giữa học kì I đến giữa học kì II, bằng biện pháp nêu trên và sự nỗ lực cố gắng rèn chữ viết cho học sinh lớp tôi phụ trách, tôi thấy đã có những chuyển biến rõ rệt so với giữa học kì I như sau: - Học sinh nghe viết đã đúng chính tả, ít bị sai do phương ngữ; chữ viết của các em đã đều nét, trình bày sạch đẹp hơn; đã có nhiều học sinh viết đúng và đẹp; tỉ lệ bài kiểm tra giữa học kì, vở chính tả, tập viết và tỉ lệ vở viết sạch đẹp cao nhất khối 1 trong nhà trường. - Giáo viên giảng dạy nhẹ nhàng, ít áp lực hơn do các em đã quen với cách dạy theo biện pháp nêu trên. Được đồng nghiệp trong tổ khối học hỏi và phụ huynh đánh giá cao về phương pháp, hình thức dạy học. Kết quả nghiệm thu sau khi áp dụng biện pháp của giáo viên như sau: Số HS tham Điểm > Điểm Điểm Điểm Ghi Thời điểm gia khảo sát 5 5-6 7-8 9-10 chú 6/19 7/19 6/19 Giữa HK I 19 0 = 31,6% = 36,8% = 31,6% 1/19 5/19 8/19 5/19 Giữa HK II 19 = 5,2% = 26,3% = 42,2% = 26,3% 5. Kết luận Qua một thời gian áp dụng biện pháp nêu trên tôi thấy học sinh lớp 1A3 có những chuyển biến tích cực về chữ viết được nhà trường đánh giá cao. Qua đó tôi cũng rút ra bài học cho bản thân “Để việc rèn luyện chữ viết cho học sinh đạt hiệu quả cao, trước hết người giáo viên phải có tinh thần trách nhiệm và sự nhiệt tình. Rèn luyện chữ viết là một quá trình lâu dài, không nên nóng vội” Các biện pháp trên hoàn toàn áp dụng được với khối 1 và các khối lớp khác ở phân môn Tập Viết và Chính tả trong năm học 2020-2021 và các năm tiếp theo. Trên đây là báo cáo của cá nhân về biện pháp rèn viết chính tả đúng, đẹp cho học sinh lớp 1. Kính mong hội đồng ban giám khảo Hội thi giáo viên dạy 6
- giỏi các cấp xem xét và tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học 2020 - 2021. Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn. XÁC NHẬN CỦA BGH Mường Mít, ngày 14 tháng 10 năm 2020 TRƯỜNG TH XÃ MƯỜNG MÍT TÁC GIẢ CHUYÊN ĐỀ Bùi Thị Hải Hòa 7

